TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN, PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN VÀ HUẤN LUYỆN THỂ THAO

TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN, PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN VÀ HUẤN LUYỆN THỂ THAO.

Trong quy trình đào tạo VĐV nhiều năm, việc đánh giá trình độ tập luyện (TĐTL) của VĐV các cấp theo độ tuổi, giới tính và môn thể thao chu yên sâu rất có ý nghĩa về mặt thực tiễn và lý luận, đặc biệt trong tuyển chọn và huấn luyện VĐV.

I. Khái niệm:

Trình độ tập luyện rất phức hợp gồm nhiều thành tố Y – sinh, tâm lý, kỹ chiến thuật, thể lực ngày càng được nâng cao nhờ ảnh hưởng trực tiếp lâu dài của lượng vận động tập luyện và thi đấu cũng như các liệu pháp hỗ trợ ngọai sinh khác. Khái niệm về quá trình biến đổi lâu dài của trình độ tập luyện luôn là gắn liền với phạm trù “phát triển “ và “thích nghi”.

Hiệu quả huấn luyện thể thao là quá trình phản ứng biến đổi thích ứng tốt của các cơ quan, hệ thống cơ thể của VĐV tiến hành huấn luyện thể thao có hệ thống và khoa học.

Hệ thống các bài tập, tập luyện tăng cường sức khỏe là quá trình liên

tục tập luyện TDTT hằng ngày, còn đối với VĐV TDTT là hệ thống các bài tập chuyên sâu, tất nhiên là mục đích và nhiệm vụ có khác nhau nên trình độ cũng rất khác nhau, song cả hai đều dùng các phương pháp kiểm tra sinh lý chức năng để đánh giá hiệu quả huấn luyện. Đối với người tập luyện tăng cường sức khỏe dựa vào năng lực tập luyện để đánh giá, còn đối với VĐV phải xác định trình độ huấn luyện, để định ra các kế họach huấn luyện khoa học hoặc các bài tập đặc hiệu. Đánh giá trình độ huấn luyện VĐV cần phải thông qua các chỉ tiêu nghiêm túc về chức năng sinh lý và các chỉ tiêu chuyên môn để đánh giá. Khi tiến hành thực nghiệm phải phân tích đối chiếu các chỉ tiêu biến đổi sinh lý ở hai trạng thái yên tĩnh và chịu lượng vận động. Trình độ tập luyện là một trạng thái động luôn luôn phát triển tuân theo các quy luật phát triển thành tích thể thao tùy thuộc vào đặc điểm giới tính, độ tuổi và môn thể thao chuyên sâu.

Đánh giá TĐTL của VĐV nói chung một mặt cần lưu ý đến các chỉ số chịu sự tác động của di truyền như: phản xạ vận động, test nhanh mạnh như bật xa tại chỗ hay có đà, chạy 30m, lực cơ tương đối, nhịp tim tối đa, lượng oxy hấp thụ tối đa tương đối với trọng lượng cơ thể, hô hấp tế bào, các chỉ số chuyển hóa yếm khí, mặt khác cần quan tâm đến một số các chỉ tiêu chịu ảnh hưởng của môi trường của giáo dục, huấn luyện nhiều như lực cơ tuyệt đối, tần số động tác… Khi đánh giá TĐTL của VĐV cấp cao trong huấn luyện, chúng ta nhất định phải định lượng được những thành tố bên trong cơ thể, đó là các chỉ tiêu y – sinh gồm hình thái, sinh lý, sinh hóa, sinh cơ đồng thời xác định những thành tố biểu hiện bên ngòai gồm các chỉ số sư phạm về thể lực chung, thể lực chuyên môn, kỹ chiến thuật và những phẩm chất tâm lý của từng VĐV vào những thời điểm sung mãn nhất tức là trước khi thi đấu.

II. Đặc điểm sinh lý về trình độ tập luyện.

Khái niệm trình độ luyện tập chủ yếu nói đến những biến đổi thích nghi về mặt sinh học (chức năng và cấu trúc) diễn ra trong cơ thể VĐV dưới tác động của tập luyện và biểu hiện ở năng lực vận động cao hay thấp.

Huấn luyện thể thao gây ra hàng loạt biến đổi về trạng thái cơ năng của các hệ thống trong cơ thể. Những biến đổi này được dùng làm chỉ tiêu sinh lý về trình độ luyện tập. Theo quan điểm V. L Karpman. 1986 thì ông gọi đó là mức độ chuẩn bị các chức năng cơ thể VĐV. Khi xác định trình độ huấn luyện cần phải chú ý các vấn đề sau đây:

2. 1. Đặc điểm cơ thể vận động viên:

Đặc điểm cơ thể và khả năng sức bền của VĐV chạy cự ly trung bình giống nhau, song các chỉ tiêu phản ứng sinh lý lại khác nhau. Ví dụ: Lúc yên tĩnh nhịp tim chậm, đây là chỉ tiêu đặc trưng của VĐV chạy cự ly trung bình, song cũng có VĐV chạy cự ly này lại không có chỉ tiêu đặc trưng đó. Do vậy cần phải phân biệt rõ đặc điểm cơ thể VĐV và điễm đặc trưng của một số môn thể thao.

2. 2. Đặc điểm các môn thể thao:

Chức năng tim mạch của VĐV chạy cự ly trung bình thay đổi nhiều so với VĐV chạy cự ly ngắn, bởi vì khi VĐV hoàn thành khối lượng vận động giống nhau, phản ứng chức năng cơ thể có khác nhau. Ví dụ: khi chạy 100m dung tích sống của VĐV chạy cự ly dài tăng không lớn lắm, nhưng hiệu suất sử dụng oxy cao hơn VĐV chạy cự ly ngắn.

2. 3. Đặc điểm số năm tập luyện:

Tham gia tập luyện năm đầu, VĐV có trình độ huấn luyện nhất định, một vài chỉ tiêu sinh lý không phản ảnh trình độ huấn luyện như các chỉ tiêu sự biến đổi tổ chức xương, xương to, chất lượng tăng…. Đều phải trải qua 3 – 5 năm sau mới biểu hiện rõ.

2. 4. Đặc điểm “ Tính biến dị “ của chỉ tiêu sinh lý:

Cơ thể VĐV có một số chỉ tiêu sinh lý được cải thiện tương ứng với trình độ huấn luyện thể thao. Ví dụ: Khối lượng tim, chu kỳ tim kéo dài hay rất ngắn…. Khi trình độ huấn luyện được duy trì ở mức cao và khi dừng tập luyện, hoặc trình độ huấn luyện giảm thì các chỉ tiêu đó cũng giảm theo.

2. 5. Đặc điểm nhịp sinh học:

Trạng thái chức năng của các hệ thống cơ quan cơ thể luôn chịu ảnh hưởng của môi trường và chúng dao động theo chu kỳ. Ví dụ: chúng chịu ảnh hưởng của mùa, thời tiết……, như vậy chức năng cơ thể trong điều kiện thời gian khác nhau có sự thay đổi theo nhịp sinh học. Do vậy, muốn đánh giá trình độ huấn luyện, chúng ta phải suy xét đến các nhân tố toàn diện, không thể đi đến kết luận nóng vội trong thời điểm nào đó. Khi biện luận về hiệu quả huấn luyện phải phân tích tổng hợp toàn diện các chỉ tiêu sinh lý, về cấu trúc hình thể, về cấu tạo thời gian sinh học, phải xem thành tích thể thao và trình độ kỹ thuật…. phải kết hợp các test y sinh học và các thử nghiệm sư phạm mới có thể đánh giá được tương đối chính xác trình độ huấn luyện của VĐV.

III. Phương pháp đánh giá trình độ tập luyện:

Để đánh gi trình độ tập luyện trong quá trình tuyển chọn và huấn luyện TDTT được đạt kết quả cao, các nhà khoa học thường sử dụng các phương pháp sau:

• Phương pháp kiểm tra y – sinh.

• Phương pháp kiểm tra tâm lý (xem phần kiểm tra, chương I)

• Phương pháp kiểm tra sư phạm. (xem sách y học TDTT)

3. 1. Phương pháp kiểm tra y – sinh.

Áp dụng phương pháp kiểm tra y – sinh nhằm nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo và chức năng các cơ quan của cơ thể có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc đánh giá trình độ thể lực có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển các cơ quan và hệ cơ quan của cơ thể.

Để đánh giá chính xác mức độ phát triển về giải phẫu và chức năng các cơ quan của cơ thể VĐV cần phải tiến hành cả trạng thái nghỉ ngơi và vận động, đặc biệt là trạng thái vận động gắng sức tối đa.

3. 1. 1. Phương pháp kiểm tra y sinh ở trạng thái nghỉ:

Đặc điểm giải phẫu và chức năng các cơ quan như hệ vận động, hô hấp, tim mạch, mu trong trạng thi nghỉ phản nh trình độ luyện tập của VĐV. Các chỉ số và chỉ tiêu y sinh của trình độ luyện tập ở trạng thi nghỉ cần được kiểm tra bao gồm:

- Các chỉ tiêu và các chỉ số về thể hình. Việc kiểm tra các chỉ tiêu thể hình (bằng phương pháp nhân trắc đã trình bày chương I) khi đánh giá trình độ tập luyện của VĐV, thường không có ý nghĩa lớn như khi tuyển chọn ban đầu. Tuy nhiên, đây cũng là việc cần thiết, nhất là đối với VĐV ở tuổi cơ thể còn đang phát triển. Với đối tượng này, các kết quả kiểm tra sẽ cho biết cơ thể của VĐV có phát triển có phát triển đúng quy luật chung hay không, có đúng với yu cầu đặc thù của môn thể thao là môn chuyên sâu của VĐV hay không? Các kích thước liên quan đến tổ chức mềm (cơ bắp) có thể phản ảnh tác động của huấn luyện khá nhạy bén. Rõ ràng không thể khẳng định công tác huấn luyện là tốt khi số chu vi các chi, hiệu số vòng ngực khi hít vào hết sức và thở ra hết sức, hiệu số vòng cánh tay khi co cứng và thả lỏng đều giảm…

- Các chỉ tiêu, chỉ số về giải phẫu và chức năng sinh lý. Đặc biệt là chức năng cung cấp và vận chuyển oxy của hệ hơ hấp, tim mạch và máu (phương pháp, tiến hành và kiểm tra xem chương I).

- Các chỉ số sinh hóa như: Men LDH; Nội tiết tố (Testosterone, Cortisol); Axid lactic; chuyển hóa năng lượng lúc nghỉ. (Xem chương I, phần xét nghiệm sinh hóa mu).

3. 1. 2. Phương pháp kiểm tra y – sinh ở trạng thái họat động định lượng:

Họat động định lượng là một họat động tiêu chuẩn, chúng ta thường gọi là họat động chuẩn. Trong họat động chuẩn, tất cả các VĐV tham gia kiểm tra đều thực hiện một bài tập có quy trình giống nhau (các test công năng tim, hô hấp …. Trình bày ở các test kiểm tra y - học ở chương I).

Khi thực hiện họat động định lượng, phản ứng của cơ thể thể hiện một phần trình độ tập luyện của VĐV đó. Ví dụ: Khi họat động định lượng, VĐV có trình độ tập luyện cao hơn thường có nhịp tim thấp hơn (chậm hơn) so với VĐV có TĐTL thấp hơn. Chức năng hô hấp, tim mạch của VĐV có trình độ cao thường thích nghi với họat động cơ bắp tốt hơn so với VĐV có trình độ thấp. Chính vì vậy mà việc xúc định các chỉ số y – sinh ở trạng thái họat động định lượng là những thông tin có giá trị so sánh để đánh giá trình độ tập luyện VĐV.

Các bài tập kiểm tra trong trạng thái họat động định lượng hay được áp dụng trong phòng thí nghiệm và trên hiện trường tập luyện hiện nay là: Bài tập đứng lên - ngồi xuống (công năng tim); Bước bục (step – test Harward); Test cooper; test PWC 170….( phương pháp tiến hành và kiểm tra xem ở phần các test kiểm tra y – sinh chương I).

3. 1. 3. Phương pháp kiểm tra y – sinh ở họat động thể lực tối đa gắng sức: 

* Công tác chuẩn bị:

- Địa điểm kiểm tra : Phòng kiểm tra thóang mát.

- Thiết bị: Xe đạp lực kế, đồng hồ bấm giây, máy phân tích khí, máy ghi điện tâm đồ, thiết bị và thuốc cấp cứu.

- Đối tượng: VĐV không hút thuốc, uống rượu trước khi làm thực nghiệm, thời gian tiến hành thực nghiệm trên máy công năng lực kế phải cách xa trước bữa ăn là 2 giờ, bác sỹ kiểm tra sức khỏe trước khi thực nghiệm, hướng dẫn cho VĐV các thao tác và các bước kiểm tra, trang phục gọn nhẹ.

* Công tác chuẩn bị:

- Giai đọan nghỉ:Hướng dẫn VĐV ngồi nghỉ trên xe đạp lực kế trong 2 phút.

- Giai đọan thực hiện bài tập: VĐV đạp xe đồng thời nhìn làn đồng hồ tốc độ của xe phải luôn là 60 vòng/phút. Mỗi bậc công suất duy trì 2 phút và tăng bậc tùy theo lứa tuổi (như các bước tiến hành test PWC 170 trên xe đạp lực kế). Dưới 16 tuổi mỗi bậc công suất là 20W, trên 16 tuổi mỗi bậc công suất là 30W. Tăng công suất cho đến khi VĐV mệt mỏi hoàn toàn mới dừng.

- Giai đọan hồi phục: Cho VĐV nghỉ 2 phút rồi tháo các thiết bị gắn ở người và in kết quả trên màn hình.. Lấy máu để xác định hàm lượng Axid lactic trong máu, đánh giá khả năng chịu đựng lượng vận động và hiệu quả tập luyện sức bền.

Đặc điểm của trình độ tập luyện trong trạng thái nghỉ:

Qua nghiên cứu chứng minh: Các chỉ tiêu sinh lý, hình thể các hệ thống, cơ quan cơ thể lúc VĐV yên tĩnh có liên quan đến trình độ huấn luyện.

+ Hệ thần kinh trung ương và các giác quan:

Sóng ALpha trên điện não đồ của VĐV hiện rất rõ, tương đối lớn. tính linh họat của tế bào thần kinh tương đối cao. Giữa tần số kích thích và tần số dẫn truyền thần kinh xuất hiện hiện tượng nhịp đồng hóa. Quá trình họat động hệ thần kinh của các VĐV chạy ngắn có tính linh họat cao, tốc độ phản xạ nhanh, thời gian phản xạ ngắn, tín hiệu truyền đều từ cơ quan cảm giác nhanh, đối với VĐV chạy cự ly trung bình thì có đặc điểm là quá trình họat động thần kinh ổn định tương đối cao, cơ quan phân tích tiền đình ổn định, cảm giác vận động và cảm giác bản thể nâng cao, thị trường của cơ quan thị giác rộng. Người được huấn luyện có thể đồng hoá nhanh nhịp kích thích và sao chép lại tần số cao này. Nói lên tính linh hoạt của các tế bào thần kinh, nhất là đối với các hoạt động về tốc độ, tính linh hoạt của các quá trình thần kinh tăng lên biểu hiện bởi:

- Thời kỳ tiềm tàng của phản ứng vận động ngắn.

- Sự phân biệt chính xác.

- Tốc độ xử lý nhanh những xung động từ cơ quan phân tích chạy lên.

+ Hệ vận động:

Hệ xương khớp, dây chằng, cơ đều có những biến đổi về cấu trúc và cơ năng, nhất là cho xương – khớp, dây chằng chắc và khoẻ hơn. Các cơ được phì đại, sự cung cấp máu cho cơ tốt hơn và nhanh hơn. Sự tăng thể tích cơ chủ yếu là tăng các hợp chất tổng hợp protít và các axit, giảm sự phân giải. Các chỉ tiêu này được thay đổi nhiều trong huấn luyện sức mạnh, đặc biệt là các bài tập tĩnh lực có hiệu quả r rệt. Ta biết rằng, trọng lượng cơ của người bình thường chiếm 35 - 40% trọng lượng cơ thể, song đối với VĐV cử tạ, thể dục dụng cụ, tỷ trọng này phải đạt trn 50% tổng lượng các chất prôtít tăng theo quá trình huấn luyện hoặc giảm theo sự ngừng tập thể thao. Nếu số lượng các sợi cơ giảm thì hm lượng mỡ tăng trong cơ và tăng tỷ lệ thành phần trong cơ tương (Helander). Sau khi huấn luyện, độ mỡ giảm xuống, nhưng tổng trọng lượng của cơ không thay đổi nhiều. Tỷ lệ % thể tích cơ nhanh của VĐV cử tạ tương đối nhiều và sợi cơ dạng IIa tăng lên khi tập các bài tập sức mạnh (Edstrom, Eklom 1972, Thorstensom 1976). Tập luyện sức bền, thể tích cơ nhỏ (Janson, Kaijser 1977, Nygaart 1977), nhưng các mao mạch xung quanh cơ tăng nhiều. Khi nghỉ ngơi yên tĩnh, không những cần quan sát sự thay đổi hình thái của VĐV mà còn phải nghiên cứu su sự thay đổi các chất trong cơ. Bởi vì sự thay đổi này có liên quan đến các môn thể thao cụ thể như:

• VĐV có đặc trưng tố chất bền thì nồng độ Mioglàobin tăng đáng kể, dự trữ oxy tăng cao, thể tích ty lạp thể lớn, họat tính của men oxy hóa trong ty lạp thể cũng tăng. Nhiều tư liệu chứng minh: Sau nhiều năm tập luyện tố chất bền, hàm lượng glucogen tăng gấp đôi, hàm lượng axít béo cũng tăng so với

trước tập luyện 83%, còn hm lượng ATP – CP chỉ tăng 25 – 40%, nhưng các men họat tính của quá trình đường phân yếm khí thì giảm 20 – 25%.

• Những VĐV có đặc trưng tố chất mạnh, họat tính men của ATP – CP không thay đổi và họat tính các men đường phân ưa khí cũng không thay đổi, họat tính các men hệ thống oxy hóa giảm 30%, thể tích của ty lạp thể (Mitochondrgium) cũng giảm, nồng độ ATP – CP và Glucogen tăng 18%, 22%, 66%.

• Sau khi huấn luyện tốc độ, hiệu quả thay đổi cơ biểu hiện: sự phát triển năng lực yếm khí. Nhưng có một số tác giả còn chứng minh (Fox), ngịai sự nở cơ do hàm lượng ATP – CP tăng lên, còn có sự tăng họat tính các men của hệ thống Axít lactic.

Bảng 3. 1. Sự thay đổi chỉ tiêu sinh hóa sau khi huấn luyện tố chất mạnh, nhanh, bền (Theo Fox và Astrand).


 

 

Hiệu quả huấn luyện

Mạnh

Nhanh

Bền

Nồng độ Mioglobin

?

?

Tăng

Hàm lượng Glucogen

Tăng

Tăng

Tăng

Men oxy hóa

Giảm

Tăng hoặc ổn định

Tăng

Hàm lượng

?

?

Tăng

Men ATP - CP

Không đổi

Tăng

?

Men Glucogen

Không đổi

Tăng ở cơ chậm

Tăng, giảm, ổn định

Nồng độ Phân tử P

Không đổi

 

Ổn định

 Tăng

Tổng dự trữ đường

?

Tăng

Tăng

Thay đổi cơ

 

FT tăng, ST

giảm

ST không chuyển

FT

FT không chuyển

ST

Nồng độ ty lạp thể

Giảm

?

Tăng thể tích

 

+ Hệ trao đổi chất và năng lượng:

Chế độ dinh dưỡng cho VĐV đầy đủ, thì xảy ra trạng thái cân bằng nitơ. Dự trữ glàucid trong cơ thể VĐV tăng lên, dự trữ lipid ở trong cơ thể giảm.

+ Chuyển hoá năng lượng: Trong tập luyện, chuyển hoá cơ sở tăng cao để cung cấp năng lượng cho quá trình vận động, nhưng khi nghỉ, chuyển hoá cơ sở giảm và ở mức bình thường.

Khi cơ họat động tùy ý, xảy ra qu trình tổng hợp và phân giải nguồn năng lượng ATP. Để hợp thành ATP, cần phải có oxy đưa liên tục từ khí trời vào ty lạp thể của các sợi cơ. Do vậy, cơ chế vận chuyển oxy có liên quan đến các hệ thống do quá trình tập luyện xúc tiến cho cơ chế vận khí đó thực hiện.

+ Hệ máu: Lúc nghỉ ngơi yên tĩnh, tỷ lệ % của hồng cầu và Hb tăng chút ít, do vậy dung lượng oxy của máu tăng lên (800ml). Astand cho rằng dung lượng oxy máu hoặc hàm lượng Hb có hệ số tương quan với VO2 max tương đối cao. VĐV sức bền có thể có sự thay đổi ở bạch cầu: Thường tăng Lympho, hàm lượng axit lactic giảm (8 – 11mg%), đường huyết tăng, kho dự trữ đường tăng so với người bình thường 10%, và nâng cao khả năng duy trì độ PH ổn định. Ngịai ra, có nhiều ti liệu chứng minh họat tính một số men trong máu tăng (Bacina).

+ Hệ hô hấp: Tập luyện TDTT làm thay đổi hình thi và chức năng hệ hô hấp, đó là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm sự vận khí của cơ thể VĐV. Qua huấn luyện tần số hô hấp giảm từ 16 – 18 lần/ xuống còn 8 – 12 lần/phút, vịng ngực (hiệu số thở ra và hít vo hết sức) tăng từ 5 – 7cm đến 9 – 15cm, biên độ nâng cơ hoành ở phía trãi từ 4,1cm lên 6,7cm, bên phải từ 4,3cm đến 6,6cm, hô hấp sâu tăng đến 700 – 850 – 1.500ml. Tần số hô hấp giảm, có tính chất chậm và sâu, trung bình từ 10 – 16 lần/phút. Dung tích sống tăng cao, trung bình là 4,5 – 6 lít (nam), nữ là 3,5 – 4,5 lít.

Do vậy, thể tích hô hấp tăng hơn, năng lực khuyếch tán cũng nâng cao, làc nghỉ ngơi, thong khí phổi của những người cùng lứa tuổi, giới tính, trọng lượng và chiều cao bất kỳ đều không phân biệt r, song cần xem xt sự hơ hấp su.

Chỉ tiêu: Thời gian nín thở dài – ngắn là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá cường độ hô hấp trong tế bào và trung khu hô hấp đối với oxy và cacbonic. Những VĐV ưu tú khả năng nín thở tương đối dài và khống chế cơ hoành ổn định. Qua đo đạt lượng oxy trong máu, khi VĐV hồi phục hơ hấp thì tác dụng oxy kết hợp với mu hồi phục nhanh nhất. Theo tác giả Tavastrerna cho rằng: Do ảnh hưởng của tập luyện, tính hưng phấn của trung tâm hô hấp tăng lên khi Cacboníc trong máu tăng làm cho cơ bắp họat động tốt, tạo điều kiện thu nạp oxy. Tác giả HALdane cho rằng, khi hàm lượng cacbonic trong phế nang tăng 0,22%, sự trao đổi khí phổi tăng 100%

Bảng 3. 2. Tỷ lệ thể tích CO2 khi nín thở của VĐV có trình độ huấn luyện khác nhau (theo Tavastrena).

Trình độ HL

CO2 làc yên

tĩnh

 

CO2 khi nín

thở

 

Trung tâm hô hấp hưng phấn khi CO2 tăng

 

Trình độ huấn

luyện tốt

 

6,76

 

8,01

19

 

Trình độ huấn

luyện chưa đủ

 

6,13

7,6

24

 

+ Hệ tuần hoàn: Những VĐV xuất sắc thường thấy mạch lúc yên tĩnh (mạch cơ sở) chậm. Theo tài liệu của Đại hội TDTT Montrel (1928), có  VĐV mạch đập cơ sở trung bình 50 lần/phút, thấp nhất là 30 lần/phút, trong đó VĐV trượt tuyết 28lần/phút (Hoogervert 1929). Nhưng chưa thấy VĐV chạy ngắn có hiện tượng này. Tất nhiên mạch chậm không làm giảm thấp lượng tâm thu ở mức bình thường, không những cung cấp năng lượng cho cơ tim họat động mà còn đảm bảo cho tế bào cơ thể sử dụng tốt hơn hàm lượng oxy. Người ta cho rằng, qua huấn luyện làm tăng cường Syênapse (khớp thần kinh) của hệ thần kinh phó giao cảm, ức chế thần kinh lúc nghỉ ngơi. Nếu VĐV nghỉ tập trong một thời gian dài sẽ dẫn đến hệ thống tuyến thượng thận tiêu hao oxy mạnh và chiếm ưu thế làm mạch đập tăng cao. Huấn luyện thể thao còn tăng cường chức năng hệ tim mạch và thể tích tim, trọng lượng tim phát triển. Chụp X quang thấy sợi cơ tim VĐV to ra, đường kính tim rộng, nhất là VĐV ở cự ly dài, VĐV trượt tuyết có cơ tim to ra và chiếm 84%. Trong quá trình tập luyện, tâm thất phải và trãi to ra, hoặc cả hai tâm thất đều to. Thể tích tim tăng chủ yếu do tăng độ dài và liên quan đến lượng tâm thu, đồng thời, các mao mạch cơ tim cũng phút triển. Khi đánh giá, phải phân biệt bệnh phì đại cơ tim và gian tâm thất. Sau đây sẽ trình bày tỷ lệ thay đổi các chỉ tiêu tuần hoàn của VĐV.

Bảng 3. 3. So sánh sự thay đổi chỉ tiêu sinh lý tuần hoàn vận động viên (Lêtunốp) .

Nhóm VĐV

Số

lượng

 

Không thay

đổi %

Tâm thất

trái to %

 

Tâm thất phải

– trái to %

VĐV Trượt tuyết

83

 

16

30

54

VĐV đi bộ

81

 

34

46

20

VĐV trượt băng

23

 

35

46

 19

VĐV vật

17

 

43

44

 13

VĐV bơi thuyền

22

 

16

43

 41

Số trung bình

226

26

40,9

31,1

 

Tim hoạt động tiết kiệm hơn và dự trữ chức năng của tim tăng lên bởi qua quá trình huấn luyện tim có những biến đổi về cấu trúc và chức năng sinh lý như sau:

- Phì đại cơ tim, chủ yếu là tâm thất.

- Tăng kích thước và trọng lượng của tim.

- Tăng thể tích buồng tim.

- Tần số nhịp tim giảm.

- Giảm lực cơ tim.

Tất cả những biến đổi về hình thái và chức năng của người tập luyện đều nhằm làm cho quá trình sinh lý xảy ra tiết kiệm hơn ở trạng thái nghỉ và bảo đảm tăng cường khả năng hoạt động của cơ thể trong vận động.

Đặc điểm của trình độ tập luyện khi vận động định lượng:

Khi VĐV có trình độ huấn luyện khác nhau, khi tập với lượng vận động giống nhau, phản ứng chức năng của các hệ thống và cơ quan cũng không giống nhau. Những VĐV có trình độ huấn luyện có tính tiết kiệm cơ năng lúc yên tĩnh và các phản ứng chịu đựng khối lượng vận động định lượng thường thấp hơn VĐV chưa đủ trình độ tập luyện. Đây là các chỉ tiêu sinh lý đánh giá hiệu quả huấn luyện. Người ta thường dùng các thử nghiệm cơ năng để đánh giá trình độ tập luyện. Thực chất là nghiên cứu một số chức năng sinh lý (tuần hoàn, hô hấp…) trước, trong và sau khi vận động. Khối lượng vận động của các thử nghiệm cơ năng được xác định trước về thời gian và cường độ vận động. Khối lượng vận động này thấp hơn khả năng giới hạn của con người. Có những thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, hoặc có những thử nghiệm tại nơi đang tiến hành tập luyện đã định trước về khối lượng, cường độ, thời gian…

Khi thực hiện lượng vận động định lượng, các phản ứng của các cơ quan, chức năng của cơ thể VĐV khác hẳn so với người không tập luyện như sau:

Tất cả các chức năng được triển khai nhanh hơn trong trạng thái bắt đầu vận động. Trong vận động, hoạt động của các hệ thống chức năng đều ở mức thấp hơn. Quá trình hồi phục nhanh hơn. Để đánh giá chức năng họat động của cơ thể, người ta sử dụng phương pháp Lêtunốp cho chịu lượng vận động chuẩn (định lượng). Ngòai ra còn dung các phương pháp test Harward, PWC 170 công năng tim… để thực nghiệm đánh giá với lượng vận động định lượng hoặc lượng vận động chuyên môn để sau khi chịu đựng lượng vận động, có sự thay đổi chức năng như sau:

+ Hệ thần kinh trung ương:

Ở những người được huấn luyện, hưng phấn của các trung tâm vận động thể hiện ở mức thấp hơn khi thực hiện lượng vận động định lượng nên các phản ứng của cơ thể cũng yếu hơn. Đối với cùng một hoạt động, ức chế bảo vệ những người được huấn luyện xảy ra chậm hơn. Thời kỳ hồi phục sau vận động định lượng, ở người được huấn luyện, thời kỳ tiềm tàng của phản ứng vận động ngắn hơn mức khởi điểm, khả năng phân biệt tốt hơn, hiện tượng ức chế do cảm ứng kế tiếp giảm.

+ Hệ vận động:

Tất cả những đặc điểm của điện thế hoạt động ở cơ của người được huấn luyện, sự phối hợp hoạt động của các trung tâm thần kinh tốt hơn và các quá trình thần kinh tập trung hơn ở các vùng vận động của não. Khả năng hưng phấn và tính linh hoạt cơ năng của cơ ở người được huấn luyện không thay đổi hoặc tăng lên khi vận động định lượng.

+ Tiêu hao năng lượng:

Tiêu hao năng lượng thấp hơn so với người không tập luyện khi thực hiện vận động định lượng

+ Hệ hô hấp:

Sự thông khí phổi và sự tiêu thụ oxy ở người được huấn luyện thấp hơn khi thực hiện vận động định lượng, như hệ số sử dụng oxy lại cao hơn người không tập luyện. Nợ oxy giảm.

+ Hệ tuần hoàn:

Tần số tim thấp hơn so với người không tập luyện khi thực hiện vận động định lượng. Sau vận động, mạch hồi phục nhanh hơn so với người không tập luyện. Lưu lượng phút tim ở người được huấn luyện tăng ít hơn khi vận động định lượng.

Bảng 3. 4. Sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh lý của VĐV có trình độ huấn luyện khác nhau khi chịu đựng lượng vận động định lượng (theo Sestakpb và Remdolla) .

Trình độ

huấn luyện

 

Mạch

(l/p)

 

Huyết áp

(mmHg)

 

VO2max khi

vận động

 

Lưu lượng

tim (l/p)

 

Hệ số sử

dụng oxy

 

Hàm lượng

AL

 

Trước, sau

Trước và sau

Trước, sau

 

Trình độ

HL cao

 

52

108

101/59

156/57

13

50

 9,8

0,73

17 - 47

 

Trình độ

HL thấp

 

60

 

114 

108/7

156/68

13

20

16

0,47

17 - 47

 

Đặc điểm các chỉ tiêu đánh giá trình độ huấn luyện khi chịu đựng lượng vận động tối đa:

Những VĐV có trình độ huấn luyện tốt, khi tiến hành huấn luyện với lượng vận động tối đa, có một số chỉ tiêu phản ứng cơ thể vượt qua các VĐV trình độ thấp. Trên thực tế, trình độ huấn luyện cao là kết quả cao của sự phối hợp nhiều chức năng phức tạp và rộng rãi, là kết quả của sự thống nhất và mối quan hệ giữa chức năng tim mạch và cơ quan vận động đạt đến cơ năng hoàn thiện nhất. Để đạt được khả năng hoạt động đến giới hạn cao nhất trong tập luyện thể thao cần chú ý tới một số yếu tố quan trọng như sau:

- Hoàn thiện kỹ thuật động tác, nhất là các môn thể thao như thể dục dụng cụ, nhào lộn….phải dựa vào kỹ thuật động tác để đánh giá thành tích thể thao.

- Tiết kiệm các quá trình sinh lý và có khả năng biến đổi nhanh các chức năng của cơ thể cho phù hợp với yêu cầu. Sự hoàn thiện kỹ thuật động tác làm cho hoạt động vận động được tiết kiệm hơn, nâng cao khả năng phối hợp các chức năng của cơ thể. Vì thế mà các quá trình sinh lý xảy ra trong cơ thể cũng tiết kiệm hơn Năng lực hoạt động có oxy. Có ý nghĩa đối với tất cả các môn thể thao. Thiếu oxy có thể làm giảm khả năng vận động ngay cả đối với hoạt động trong thời gian ngắn. Nhưng hoạt động càng kéo dài thì vai trò của năng lực vận động có oxy càng tăng lên. Năng lực hoạt động oxy là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo khả năng hoạt động trong các môn cường độ lớn và trung bình. Năng lực hoạt động không có oxy. Là khả năng của cơ thể hoạt động khi thiếu oxy, dựa vào các nguồn năng lượng có thể phân giải không có oxy.

Năng lực vận động không có oxy của cơ thể phụ thuộc vào:

+ Hoạt động của các men xúc tác các phản ứng sinh hoá không có oxy tham gia.

+ Dự trữ vật chất chứa năng lượng được sử dụng để tổng hợp lại không có oxy, ATP.

+ Mức độ thích ứng của tổ chức đối với những biến đổi của môi trường bên trong.

Vai trò của từng yếu tố phụ thuộc vào những đặc điểm cá nhân của VĐV và môn thể thao.

+ VO2max:

VĐV có trình độ huấn luyện cao, khi tiến hành chịu đựng LVD có cường độ khác nhau thì lượng thông khí phổi và lượng tâm thu không ngừng đạt đến giá trị tối đa theo nhu cầu họat động. Thông khí phổi (nam) đạt 150 – 160 lít/phút. Vận động viên nữ đạt 90 – 130lít/phút, lượng tâm thu/phút đạt 30 – 35lít/phút. VO2max là chỉ tiêu quan trọng đánh giá tổng hợp chức năng tim mạch – hô hấp của cơ thể. Những VĐV ưu t, VO2max tương đối đạt 83 – 85ml oxy/1kg trọng lượng (5 – 6lít/phút). Vận động viên chạy ngắn hoặc người bình thường VO2max đạt 3 – 3,5lít/phút. Chính vì vậy, chức năng sinh lý VĐV ưu tú có lợi cho sự tuần hoàn Axit lactic, cho nn những VĐV ưu tú thường có hàm lượng Axit lactic thấp hơn người không có trình độ huấn luyện trong cùng lượng vận động, độ pH cũng giảm nhiều.

+ Hiện tượng tiếng tim liên tục:

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của các nhà sinh lý học, hiện nay hiện tượng tim của các VĐV ưu tú trong thời kỳ hồi phục xuất hiện tiếng tim liên tục 1 – 3 phút và điều này được kết luận như sau:

• Tiếng tim liên tục là hiện tượng của những VĐV có trình độ huấn luyện tốt sau khi thực hiện họat động căng thẳng trong thời gian dài.

• Tiếng tim liên tục không có gì liên quan đến sự giảm sút chức năng tim mạch đối với VĐV trượt tuyết và bơi thuyền khi được tập luyện tốt (Glamblab)

• Tim mạch của VĐV có tiếng tim liên tục có năng lực co cơ cao và không liên quan gì đến trương huyết quản (Sestakop), đó là hiện tượng nên xem là sự họat động thể lực mãnh liệt.

• Hiện tượng tiếng tim ko di trong trạng thi  yên tĩnh và trong họat động thấp thì biểu hiện trạng thi bệnh lý của hệ tim mạch và động mạch mở qu rộng, dịng mu chuyển nhanh có quan hệ đến sự giảm đột ngột trương lực huyết mạch và nếu tái xuất hiện vận động thì làc đó hiện tượng tiếng tim liên tục được xem là chỉ tiêu bệnh lý của hệ tim mạch..

 

Đăng nhập

Thông tin liên hệ

Khoa Y sinh học
Trường Đại học TDTT TW I
Từ Sơn, Bắc Ninh

Điện thoại: 0241.2246128
Fax:02413832550

Trang liên hệ

Trực tuyến

 Khoa Y học TDTT hỗ trợ trực tuyến

    - 

 - Giải quyết thắc mắc về thông tin công bố, điểm thông báo

- Tư vấn học tập, chính sách chế độ với sinh viên

- Tư vấn hướng nghiệp, việc làm sau ra trường

Facebook: ysinhhoctdtt khoa 

https://www.facebook.com/ysinhhoctdtt.khoa

Email: khoaysinhhoctdtt@gmail.com

webside liên kết

Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh

http://www.dhtdtt1.edu.vn/

Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch

http://www.cinet.gov.vn/

Người dùng trực tuyến

Hiện đang có 0 users4 khách trực tuyến.