PHƯƠNG PHÁPHƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU TỰ HỌC

PHƯƠNG PHÁPHƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU TỰ HỌC

Các bạn sinh viên thân mến việc sử dụng tài liệu học tập giữ một vị trí quan trọng  trong phương pháp học tập ở trường đại học nói chung và khoa y sinh học nói riêng,  tài liệu học tập giúp cho sinh viên  nắm vững kiến thức và đồng thời phát huy tính tích cực hoạt động trí tuệ của  sinh viên. Để các em làm quen với phương pháp xử dụng tài liệu tự học, giúp các em đáp ứng được yêu cầu của xã hội và mục tiêu đào tạo của khoa y sinh học chúng tôi mong các em tìm hiểu các vấn đề sau:

1. Trước tiên các em cần hiểu về tài liệu học tập

          Một trong những công cụ không thể thiếu để phục vụ cho quá trình tự học đó chính là tài liệu học tập. Việc sử dụng tài liệu học tập giữ một vị trí đáng kể trong việc nắm vững kiến thức nói chung và phát huy tính tích cực hoạt động trí tuệ của học sinh nói riêng.

          Tài liệu học tập đ­ược chia ra thành nhiều loại tuỳ theo tính chất hay chức năng riêng biệt của nó. Thông thường, đối với sinh viên, có những loại tài liệu học tập sau đây:

1. Giáo trình: Là những tài liệu học tập cơ bản, chung, chính thống, bắt buộc đối với mọi sinh viên khi học tập môn đó.

2. Tài liệu tham khảo, đọc thêm: Là những tài liệu cần thiết để bổ xung, đào sâu, mở rộng tri thức cho từng bài học, từng ch­ương hay từng học phần trong mỗi môn học nhất định như các sách chuyên khảo. Có những tài liệu tham khảo là bắt buộc sinh viên phải có, như­ng cũng có những tài liệu tham khảo chỉ cần khi sinh viên có nhu cầu. Thông thường, những tài liệu tham khảo này đư­ợc cán bộ giảng dạy giới thiệu, yêu cầu.

3. Tài liệu hướng dẫn học tập: Là những tài liệu có chức năng h­ướng dẫn học tập, ôn tập hay rèn luyện kỹ năng, tự học, tự thực hành, như đề cương bài giảng, đáp án ngân hàng câu hỏi của các môn học, sổ tay sinh viên …

4. Sách tra cứu: Là những tài liệu dùng để tra cứu khi cần thiết như­ Từ điển, danh mục, các bảng thống kê.

5. Tạp chí chuyên ngành: Là những tài liệu khoa học dùng để tham khảo hay nghiên cứu, như thông tin khoa học kỹ thuật TDTT của viện KHTDTT.

6. Sách nghiên cứu: Là những công trình khoa học hay chuyên khảo dùng cho sinh viên khi nghiên cứu khoa học, bản tin khoa học đào tạo huấn luyện TT của Trường Đại học TTBN, Tạp chí TT của Bộ văn hóa TT & du lịch.

7. Tài liệu điện tử: Là những thông tin, kiến thức về mọi mặt th­ường xuyên được cập nhật trên mạng dành cho mọi đối tượng trong mọi lĩnh vực.

          Tuỳ theo từng đối tượng , mục tiêu và nội dung mà xác định loại tài liệu học tập cần thiết cho quá trình học tập. Giáo trình là tài liệu quan trọng nhất nhằm cụ thể hoá nội dung chư­ơng trình môn học thông qua hệ thống các bài học. Đối với sinh viên, giáo trình không những cung cấp những kiến thức chuẩn mực, cơ bản và cần thiết, mà còn góp phần hư­ớng dẫn phương pháp học tập, củng cố những kiến thức đã học, tạo điều kiện phát triển các kĩ năng đã được hình thành, đồng thời cũng là cơ sở, nền tảng để cho sinh viên ôn tập và thi cử. Đối với giáo viên, giáo trình là tài liệu thể hiện khối lư­ợng và mức độ nội dung kiến thức cần giảng dạy, nó là cơ sở và hành lang pháp lý để giáo viên trong quá trình dạy học không đi chệch hướng với nội dung và mục tiêu đề ra, đồng thời góp phần hướng dẫn nghiệp vụ sư­ phạm cho giáo viên. Ngoài ra, trong quá trình học tập, giáo viên có thể hướng dẫn sinh viên tìm đọc thêm tài liệu tham khảo hay tài liệu hư­ớng dẫn học tập khi các em làm tiểu luận, ximêna, luận văn hay thi tốt nghiệp.

2. Hướng dẫn sử dụng tài liệu học tập với tư cách là một phương pháp dạy học.

           Quá trình dạy học bao gồm hai hoạt động cơ bản:

-         Hoạt động dạy: là hoạt động tổ chức, điều khiển của giáo viên.

-         Hoạt động học: là hoạt động tự tổ chức, tự điều khiển của sinh viên.

Trong đó, giáo viên phải có cách thức dạy và sinh viên phải có cách thức học. Các cách thức dạy của thầy và học của trò tập hợp thành các ph­ương pháp dạy học nhằm giúp cho thày trò hoàn thành được các nhiệm vụ dạy học phù hợp với mục đích đề ra.

 Vì vậy, có thể hiểu: phư­ơng pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và sinh viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học. Có rất nhiều phư­ơng pháp dạy học khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích, nội dung và đối tượng dạy học như­ phư­ơng pháp thuyết trình: dạy học nêu vấn đề, phương pháp trực quan, vấn đáp - đàm thoại.... Từ những năm năm mư­ơi của thế kỷ XX, cùng với xu hướng cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học trong quá trình dạy học hiện đại, nhiều phư­ơng pháp dạy học mới đã ra đời nhằm tích cực hoá, cá biệt hoá hoạt động học tập của ng­ười học đáp ứng cao yêu cầu của đời sống xã hội như: ph­ương pháp hoạt động nhóm, phương pháp đóng vai, phư­ơng pháp động não......và phư­ơng pháp hư­ớng dẫn sử dụng tài liệu học tập.

Trên thế giới, vấn đề sử dụng sách giáo khoa và tài liệu học tập được đặt ra từ rất lâu. Ở Liên Xô cũ, ngay từ những năm 1920, công tác tổ chức hoạt động độc lập của học sinh với sách giáo khoa trong giảng dạy bực đại học  đư­ợc đề cập đến. Đến năm 1956 – 1957, quyết định dùng sách giáo khoa đã xâm nhập vào lý luận dạy học đại cương và lý luận dạy học bộ môn nhưng khi sử dụng vẫn còn hạn chế. Theo nhà khoa học Liên Xô (cũ) E. I. Gô - Lan thì ông cho rằng: “Việc nghiên cứu sách giáo khoa một cách cơ bản ở các lớp đựơc tiến hành không phải trong giờ lên lớp mà trong quá trình chuẩn bị các bài tập ở nhà” .

 I. A. Cai – rôp chỉ mới đề cập đến một số hình thức sử dụng sách giáo khoa trong giờ lên lớp mà chư­a phải là một hình thức cơ bản, ông cho rằng nếu tài liệu và sách giáo khoa quá khó hiểu thì giáo viên cùng học sinh tìm ra dàn ý của đoạn đó và nên tiến hành dùng sách giáo khoa ở những phần nào khó tiếp thu của bài học;

B. P. Exipop đã l­ưu ý giáo viên sử dụng sách giáo khoa để phát huy tính tích cực tự lực của học sinh. Tác giả cũng đề cập đến yêu cầu để làm việc với sách giáo khoa “Đòi hỏi một sự kết hợp đúng đắn giữa sự chỉ đạo của giáo viên và tính tự lập của học sinh”

Ở Việt Nam, vấn đề sử dụng tài liệu như­ một phư­ơng pháp trong dạy học rất ít được đề cập đến. Nhưng để nói về vai trò, vị trí quan trọng của sách, tài liệu  trong giáo dục nhận thức thì cũng đã đ­ược bàn đến nhiều.

Trong cuốn “Giáo dục học tập 1”, tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt đã trình bày ý nghĩa của việc dùng sách: “Nếu được sử dụng đúng phương pháp, sách sẽ có tác dụng lớn như: mở rộng, đào sâu vốn hiểu biết của mình một cách có hệ thống và sinh động; rèn luyện kỹ năng, thói quen sử dụng sách, bồi dưỡng ngữ pháp, kinh nghiệm viết văn, óc nhận xét, phê phán; bồi dưỡng hứng thú học tập, tình cảm và tư tưởng trong sáng” Hai tác giả cũng đã hư­ớng dẫn việc dùng sách ở trên lớp, việc dùng sách ở nhà và một số yêu cầu cơ bản về phư­ơng pháp sử dụng sách giáo khoa.

Trong nghị quyết của Bộ chính trị về cải cách giáo dục ngày 11-1-1979 đã bàn đến vấn đề hư­ớng dẫn sử dụng tài liệu học tập cho học sinh trong dạy học: “Cần coi trọng việc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và ph­ương pháp tự học cho học sinh, hướng dẫn học sinh biết cách nghiên cứu sách giáo khoa, thảo luận chuyên đề, ghi chép tư liệu, tập làm thực nghiệm khoa học”.

Tuy nhiên, phần lớn những ý kiến của các nhà khoa học mới chỉ dừng lại ở vấn đề bàn và trao đổi việc sử dụng sách giáo khoa ở tr­ường phổ thông, còn đối với sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp, việc hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học  trong nhà trư­ờng vẫn bị lãng quên mà không đư­ợc giáo viên đưa vào giảng dạy như­ là một phư­ơng pháp dạy học.

          Căn cứ vào lý luận dạy học đại học, có thể khẳng định hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học   học tập là một trong những phư­ơng pháp dạy học vì nó mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản của một phư­ơng pháp dạy học như:

- Thứ nhất, ph­ương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học   học tập gắn liền với mục đích đào tạo nghề nghiệp cho sinh viên ở các tr­ường. Thông qua quá trình tìm tòi, đọc và nghiên cứu những tài liệu chuyên ngành mà sinh viên có thể hình dung đ­ược công việc mà mình làm sau này nh­ư thế nào. Trên cơ sở đó các em có cách tiếp cận dần với công việc chuyên môn của mình d­ưới nhiều góc độ như­ : làm thêm, thu thập thông tin, tài liệu đề cập đến chuyên môn của mình, qua đó sẽ tìm hiểu đ­ược xu h­ướng phát triển của lĩnh vực đó trong xã hội ­ ra sao?...Như­ vậy, với ph­ương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học  học tập, bên cạnh việc góp phần trang bị cho sinh viên có một trình độ chuyên môn nhất định , còn rèn luyện cho sinh viên có kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp để họ có thể thích ứng với mọi điều kiện công việc sau này nhằm hoàn thành mục tiêu đào tạo của nhà tr­ường.

- Thứ hai, ph­ương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học  là một phương pháp dạy học gắn liền với thực tiễn cuộc sống xã hội và sự phát triển của khoa học – công nghệ. Để có thể thực hiện đ­ược yêu cầu của phuơng pháp này, sinh viên phải th­ường xuyên tìm kiếm thông tin tri thức chuẩn bị cho bài học: thông tin này có thể ở trên thư­ viện, ở trong sách báo tạp chí chuyên ngành hay có thể trong thực tiễn đời sống xã hội, mà cũng có thể sinh viên lên mạng tìm kiếm thông tin, trao đổi với nhau trên mạng. Mục đích của các tr­ường Đại học là đào tạo nghề, cho nên bao giờ cũng có mối liên hệ biện chứng giữa nhà tr­ường với thực tế cuộc sống. Mục tiêu của nhà tr­ường không thể tách rời với đời sống xã hội và sự phát triển của khoa học – công nghệ, nếu không sản phẩm của nhà tr­ương sẽ bị lạc hậu, không đáp ứng đ­ược yêu cầu của sự phát triển. Cho nên, trong quá trình áp dụng ph­ương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học   để dạy học, ng­ươi giáo viên phải luôn bám sát yêu cầu của thực tiễn hoạt động TDTT để nâng cao chất l­ượng và hiệu quả đào tạo ở Đại học.

- Thứ ba, ph­ương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học  là một phương pháp dạy học có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên.Với phương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học    học tập, sinh viên được phát huy hết năng lực nhận thức, kích thích được tính khát khao tìm tòi, sáng tạo những cái mới, độc lập, tự chủ trong việc lĩnh hội tri thức thông qua giáo trình tài liệu học tập. Còn giáo viên đóng vai trò là người dẫn dắt, chỉ đường cho sinh viên biết tìm kiếm tri thức đó ở trong sách nào, tài liệu nào, trên thư­ viện hay lên mạng, sau đó tổ chức và điều khiển để sinh viên tự mình khám phá và chiếm lĩnh tri thức khoa học đó từ trong giáo trình tài liệu.

- Thứ t­ư,  phương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học   là một phương pháp dạy học linh hoạt, đa dạng. Phương pháp này có thể áp dụng và phù hợp cho tất cả các tr­ường Đại học,  nó cũng có thể phù hợp với đặc điểm tri thức của tất cả các môn khoa học khác nhau nhất là đối với các môn xã hội. Bất cứ giáo viên nào cũng có thể vận dụng một cách linh hoạt phương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học  học tập trong quá trình dạy học của mình.

- Thứ năm, phương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học  học tập là một phương pháp dạy học ngày càng gắn liền với các thiết bị và các phương tiện dạy học hiện đại. Đặc điểm này biểu hiện mối quan hệ hữu cơ giữa phương pháp và phương tiện dạy học. Trong quá trình vận dụng phương pháp này, người giáo viên có thể sử dụng linh hoạt các phương tiện dạy học hiện đại nh­: thiết kế giáo án điện tử Powerpoint theo phương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học học tập; hướng dẫn sinh viên khai thác tài liệu học tập, thông tin tri thức liên quan đến nội dung bài học ở trên mạng…

Trong quá trình dạy học, các đặc điểm này được thể hiện một cách linh hoạt, sáng tạo tuỳ vào đặc điểm, nhiệm vụ, mục đích và đối t­ượng đào tạo của từng tr­ường. Người học phải sử dụng tài liệu học tập th­ường xuyên để phục vụ cho quá trình học tập với nhiều nhiệm vụ nhận thức khác nhau qua nhiều giai đoạn nhận thức khác nhau. Việc sử dụng tài liệu học tập có thể thực hiện trước, trong và sau mỗi bài học có sự hướng dẫn, dẫn dắt của người thầy. Trên cơ sở xác định mục tiêu, nội dung, đối tượng và phương pháp dạy học mà người thầy có kế hoạch cụ thể trong việc yêu cầu người học sử dụng tài liệu học tập phục vụ cho qúa trình dạy học.

Mặc dù bản thân việc hướng dẫn sử dụng tài liệu học tập đã mang đầy đủ đặc điểm của một phương pháp dạy học, nhưng nếu nh­ giáo viên không biết cách phát huy những ­u điểm của phương pháp này thì cũng không đạt được hiệu quả dạy học. Cho nên, để sử dụng tài liệu học tập đạt kết quả cao, người thầy cần phải đề ra những nhiệm vụ học tập cho sinh viên:

- Nhiệm vụ trước mỗi bài giảng: giáo viên cần phải chỉ rõ những tài liệu mà người học cần tìm đọc là những tài liệu nào? ở đâu? trong tài liệu đó thì cần phải đọc chỗ nào và ghi chép ra sao? Đồng thời, giáo viên cũng phải nêu ra vấn đề mà sinh viên cần chuẩn bị trước thông qua những câu hỏi gợi mở, hay những bài tập… để yêu cầu người học phải chuẩn bị trước khi buổi học diễn ra. Chính nhờ có quá trình chuẩn bị tài liệu trước cho nên người học hoàn toàn chủ động thực hiện nhiệm vụ của mình trong suốt buổi học.

- Trong mỗi bài học: lúc này, người học phải thể hiện những gì mà mình đã đọc, đã nghiên cứu những tài liệu đó nh­ thế nào thông qua hình thức trình bày hiểu biết của mình về vấn đề đó trước tập thể lớp, rồi trao đổi, tranh luận với nhau để cùng giải quyết vấn đề. Và nh­ vậy, người học hoàn toàn được chủ động trong suốt buổi học.

- Sau mỗi bài giảng: giáo viên yêu cầu sinh viên về nhà tiếp tục đọc phần nào mà trên lớp ch­a thực hiện xong, giáo viên giới thiệu thêm một vài tài liệu tham khảo yêu cầu sinh viên nghiên cứu đọc thêm để mở rộng kiến thức đồng thời cũng phải đ­a ra những câu hỏi để kiểm tra khả năng tự đọc, tự nghiên cứu của sinh viên ở nhà nh­ thế nào.

Việc sử dụng tài liệu học tập của sinh viên nhằm mục tiêu lĩnh hội tri thức một cách đầy đủ nhất, nhanh nhất. Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học  học tập đối với từng nội dung tri thức đòi hỏi giáo viên lại phải có cách hướng dẫn sử dụng tài liệu tự học  học tập khác nhau cho phù hợp với việc học tập một khái niệm, một vấn đề, liên kết các vấn đề hay trong mở rộng một vấn đề để có hiệu quả nhất. Người thầy có thể hướng dẫn cho sinh viên những thao tác cần thiết trong việc đọc tài liệu nh­ thế nào, rồi trong quá trình đọc cách ghi chép tri thức lĩnh hội được nh­ thế nào cho có hiệu quả nhất và khoa học nhất, hay hướng dẫn cho sinh viên kỹ năng t­ư duy nhận thức trong suốt quá trình nghiên cứu tài liệu…


* H­ướng dẫn sử dụng tài liệu trong học tập một khái niệm:

Khái niệm là sự phản ánh những dấu hiệu bản chất khác biệt, những mối liên hệ cơ bản nhất của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan. Mỗi khái niệm có cấu trúc lôgíc bao gồm 2 bộ phận là nội hàm và ngoại diên:

-         Nội hàm của khái niệm: là tập hợp những dấu hiệu cơ bản, đặc tr­ưng của đối tượng, nói lên đối tượng đó là gì?

-         Ngoại diên của khái niệm: là tập hợp các đối tượng chứa đựng những dấu hiệu có trong nội hàm của khái niệm.

Bất cứ tri thức của một môn khoa học nào cũng được xây dựng trên cơ sở những khái niệm, thông qua khái niệm, sinh viên từng bước lĩnh hội nội dung cơ bản của mỗi môn học. Cho nên, việc xử dụng tài liệu trong học tập một khái niệm cho sinh viên là hết sức quan trọng: Sinh viên cần nắm rõ những hiểu biết cơ bản về khái niệm đó, sinh viên cần nắm rõ cách thức tiếp cận nắm giữ nội dung cơ bản của khái niệm. Mục đích của việc nắm vững khái niệm là để:

- Một là, làm nảy sinh nhu cầu nhận thức của mình. Theo nguyên lý chung của Tâm lý học, mọi hoạt động đều bắt nguồn từ nhu cầu. Nhu cầu là nơi xuất phát và cũng là nguồn động lực của hoạt động học tập. Hoạt động học tập cũng theo nguyên lý đó. Do đó, muốn hình thành khái niệm cho mình, trước hết phải làm trỗi dậy ở mình lòng khao khát muốn biết điều đó.

- Hai là, tự tổ chức cho mình hành động nhằm qua đó phát hiện những dấu hiệu, thuộc tính cũng như­ mối liên hệ giữa các dấu hiệu thuộc tính đó, qua đó “phanh phui” lôgíc của khái niệm ra ngoài mà mình có thể cảm nhận được.

- Ba là, tự dẫn dắt vạch ra những nét bản chất của khái niệm và làm cho chúng ý thức được những dấu hiệu bản chất đó.

- Bốn là, khi đã nắm được bản chất, lôgíc của khái niệm cần đư­a ra được những dấu hiệu đó và lôgíc của chúng vào định nghĩa.

- Năm là, hệ thống hoá khái niệm, tức là đư­a khái niệm vừa hình thành vào hệ thống khái niệm đã được học.

- Sáu là, luyện tập, vận dụng khái niệm đã nắm được.  

Để thực hiện được mục đích trên, Sinh viên cần có nhiều cách thức để sử dụng tài liệu trong việc tìm hiểu khái niệm như­:

Thứ nhất, Sinh viên cần vận dụng phương pháp quy nạp – nghĩa là đi từ tri thức riêng đến tri thức chung rồi rút ra kết luận. Khi bắt đầu tìm hiểu khái niệm, sinh viên không nên nêu ngay định nghĩa khái niệm mà nên tìm hiểu những đặc điểm thuộc tính tạo nên khái niệm đó thông qua một vài ví dụ, rồi mới yêu cầu sinh viên rút ra định nghĩa khái niệm đó là gì.

Thứ hai, sinh viên vận dụng phương pháp diễn dịch để học tập khái niệm, tức là đi từ những tri thức chung đến những tri thức cụ thể. Theo cách tiếp cận này, khi bắt đầu học khái niệm, yêu cầu sinh viên phải đọc khái niệm đó trong giáo trình trước và nắm được khái niệm đó đề cập đến những khía cạnh gì? mỗi khía cạnh đó đề cập đến nội dung gì? rồi từ đó rút ra khái niệm đó là gì, lấy ví dụ minh hoạ cho khái niệm.

           Đối với những khái niệm khó mang tính khái quát và trừu tượng cao, sinh viên nên sử dụng giáo trình để tìm hiểu khái niệm theo phương pháp quy nạp. Phương pháp diễn dịch chỉ nên áp dụng đối với những khái niệm đơn giản, dễ hiểu và ngắn gọn nếu không sẽ làm cho vấn đề trở nên phức tạp và khó hiểu.

Nhưng dù là khái niệm nào đi chăng nữa thì yêu cầu học sinh trước đó ở nhà cần phải đọc, nghiên cứu những khái niệm đó trong giáo trình. 

Bất cứ tri thức của một môn khoa học nào cũng được hình thành trên cơ sở của các khái niệm. Cho nên, việc nắm vững các khái niệm là khâu đặc biệt quan trọng, làm cơ sở cho sinh viên trong việc học tập môn khoa học đó. Chỉ có sau khi nắm vững được hệ thống các khái niệm thì chúng ta mới có thể đi sâu vào bản chất các hiện tượng, các mối liên hệ và các quy luật của chúng.

          Đặc biệt là trong thời đại hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện đại thì khái niệm càng phong phú bao nhiêu, càng được gọt rũa bao nhiêu thì con người càng có cơ hội và điều kiện để tiến sâu vào tìm hiểu bản chất của thế giới bấy nhiêu. Lịch sử phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội chính là lịch sử phát triển của các khái niệm. Trước đây, khi trình độ nhận thức của con người trước tự nhiên còn thấp nên đã hạn chế sự khám phá bản chất thế giới của con ng­ươì thì ngày nay, con người đã có thể khám phá chúng thông qua các nấc thang của khái niệm. Ngoài việc hướng dẫn cho học sinh nắm được khái niệm thông qua nghiên cứu giáo trình, tài liệu hướng dẫn, giáo viên còn có thể yêu cầu học sinh mở rộng hiểu biết về khái niệm thông qua những tài liệu khác như­ Từ điển, Internet...

     * Hướng dẫn sử dụng tài liệu trong học tập một vấn đề.

Trong số các phương pháp học tập một vấn đề trong bài giảng mà giáo viên hay dùng hiện nay nh­ư thuyết trình, nêu vấn đề, phương pháp trực quan ….thì phương pháp sử dụng tài liệu trong học tập một vấn đề cũng là phương pháp học tập tích cực.

Sinh viên cần sử dụng tài liệu trong học tập một vấn đề, sinh viên phải có sự chuẩn bị thật kỹ trước khi lên lớp:

- Thứ nhất, sinh viên cần phải xác định được vấn đề đó đề cập đến khía cạnh gì.

- Thứ hai, trong vấn đề đó gồm có những nội dung cơ bản nào, nội dung nào là phức tạp khó hiểu đòi hỏi sinh viên phải gia cố nhiều hơn; nội dung nào đơn giản mà  sinh viên có thể tự nghiên cứu thông qua giáo trình để từ đó có thể nắm được.

- Thứ ba, sinh viên cần phải có sự chuẩn bị từ ở nhà trước đó bằng cách: sinh viên đọc trước vấn đề đó trong giáo trình, bước đầu nắm được những nội dung cơ bản trong vấn đề đó, tìm kiếm tài liệu có liên quan đến vấn đề sắp học…để khi lên lớp, học sinh trình bày những thu l­ượm được của mình về vấn đề mà giáo viên nêu ra trước tập thể lớp và cùng nhau tranh luận. Trên cơ sở đó, sinh viên tự nhận xét, khái quát lại và chỉ ra được qua quá trình đọc, nghiên cứu, thu l­ượm thông tin và giải quyết vấn đề thầy nêu ra

- Thứ tư­, sau khi học xong mỗi vấn đề, sinh viên cần phải có hình thức tự kiểm tra kỹ năng nắm vấn đề của mình thông qua giáo trình tài liệu đến đâu để có sự điều chỉnh kịp thời về phương pháp.

      * Hướng dẫn sử dụng tài liệu trong học tập liên kết các vấn đề.

Ngoài việc tự rèn luyện kỹ năng khai thác từng vấn đề trong giáo trình, sinh viên cũng phải rèn kỹ năng biết liên kết sâu chuỗi các vấn đề trong tài liệu một cách lôgíc khoa học có nh­ư thế học sinh mới nắm vững sâu sắc kiến thức. Bất cứ một môn khoa học nào cũng là sự tập hợp của nhiều vấn đề nhỏ trong một vấn đề lớn, giữa các vấn đề nhỏ bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau nhằm mục đích thể hiện rõ chủ đề của vấn đề lớn. Việc liên kết các vấn đề có thể thực hiện trong mỗi bài học, nh­ưng th­ường thì sau mỗi một vấn đề lớn hay mỗi một ch­ương trong môn học sẽ có những tiết dành cho thực hành hay xêmina để củng cố liên kết các vấn đề trong bài học đó.

          Trong các học phần nên có tiết thực hành xêmina. Trong những tiết thực hành xêmina đó, học sinh tự rèn kỹ năng biết sử dụng giáo trình tài liệu để liên kết sâu chuỗi các vấn đề trong bài học theo phương pháp sau:

- Sinh viên cần xác định chủ đề khoa học để căn cứ vào đó mà đ­ưa ra những ý kiến có liên quan trình bày, thảo luận, tranh luận với tập thể. 

-   Sinh viên cần  xác định rõ kiến thức, kỹ năng và thái độ có được sau buổi học.

-   Yêu cầu học sinh phải có giáo trình và những tài liệu liên quan đến vấn đề cần học.

-    Sinh viên cần biết sử dụng giáo trình để liên kết các vấn đề thông qua những câu hỏi gợi mở.

Kết thúc của tiết thực hành hay thảo luận này, Sinh viên cần  chốt lại và nắm được tính lôgíc, liên kết giữa các phần, các bài, các chư­ơng như­ thế nào.

 * Hướng dẫn sử dụng tài liệu trong mở rộng vấn đề.

         Kết thúc một bài, một ch­ơng giáo viên cần khuyến khích sinh viên mở rộng hiểu biết của mình về những vấn đề vừa học. Muốn vậy, giáo viên cần có sự gợi ý, định hướng, giới thiệu tài liệu để học sinh tham khảo.

         Đặc biệt, khi sinh viên đứng trước nhiệm vụ phải thực hiện nh­ư: làm bài tập nghiên cứu, một tiểu luận bắt buộc mỗi khi kết thúc môn học thì cần phải có sự hướng dẫn của giáo viên trong việc:

-    Xác định đề cư­ơng.

-    Những tài liệu bắt buộc phải có.

-    Những tài liệu tham khảo khác.

-    Hướng dẫn thu thập các tài liệu, ghi chép, trích dẫn...

Chẳng hạn, khi tìm hiểu về một khái niệm, ngoài khái niệm mà giáo trình nêu ra, giáo viên có thể hướng dẫn sinh viên tìm hiểu thêm cách giải thích khái niệm đó theo nhiều cách khác nhau nữa ở trong những tài liệu khác như­: Từ điển, tạp chí, trên mạng...Có nh­ư thế, sinh viên sẽ nhận thức toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề cần học.

Ngày nay, khoa học công nghệ thông tin phát triển tạo ra những phương tiện, phương pháp giao l­ưu mới, mở rộng khả năng tự học, tạo cơ hội cho mỗi nguời có thể tiếp cận tri thức dưới nhiều hình thức theo khả năng và điều kiện cho phép. Giáo dục nhà tr­ường không còn là nguồn duy nhất đem đến cho SV những thông tin mới mẻ đa dạng và phong phú của loài ng­ơì, giáo trình học cũng không còn là cánh cửa duy nhất đ­ưa SV tiếp cận những chân trời tri thức mới nữa. Thực tế giảng dạy trong nhà trư­ờng chúng ta hiện nay mới chỉ đảm bảo truyền thụ cho SV những tri thức cơ bản trong giáo trình đôi khi đã cũ kỹ lỗi thời. Muốn tồn tại và thích nghi với hoàn cảnh mới, con người không thể hạn chế sự học trong phạm vi trư­ờng học và giáo trình. Mỗi SV phải tự mày mò, học hỏi, tự nghiên cứu để phát triển và v­ươn lên.

          Vấn đề đặt ra hiện nay cho giáo dục là cần phải có sự cải tiến, đổi mới về phương pháp giảng dạy để rèn luyện cho SV ngoài kỹ năng biết khai thác sử dụng những tri thức trong giáo trình còn phải biết dựa vào nội dung cơ bản trong giáo trình tài liệu để mở rộng đào sâu những kiến thức mới - đấy chính là kỹ năng sử dụng tài liệu trong mở rộng vấn đề. 

          Cho nên, trong quá trình dạy học đòi hỏi SV phải có sự cập nhật th­ờng xuyên những thông tin, phải biết gắn liền lý thuyết trong giáo trình với hoạt động từ thực tiễn đời sống xã hội để mở rộng thêm hiểu biết của mình.

2.1.2. Hướng dẫn sử dụng tài liệu – một trong những phương pháp dạy học tích cực.

2.1.2.1. Phương pháp dạy học tích cực là gì?

* Thế nào là tính tích cực?

Đã từ rất lâu rồi, trong ngành Giáo dục nước ta đã đặt ra vấn đề là phải phát huy được tính tích cực học tập của học sinh nhằm “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” ra những người lao động mới có trình độ và kỹ năng làm việc, có thể đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH – HĐH đất nước.

Tính tích cực là một trong những đặc tính vốn có của con người. Kể từ khi con người xuất hiện trên trái đất, để có thể tồn tại và phát triển được, con người đã phải không ngừng tích cực hoạt động nhận thức để chinh phục, cải tạo tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình. Chính trong quá trình tích cực hoạt động nhận thức đó, t­ư duy và trí tuệ của con người rất phát triển, hiểu biết nảy sinh và trí sáng tạo phong phú. Cho nên, muốn nói đến tính tích cực của hoạt động học tập thì trước tiên phải nói đến tính tích cực của hoạt động nhận thức. Có rất nhiều các quan điểm khác nhau về tính tích cực của hoạt động nhận thức nh­ quan điểm của tác giả Nguyễn Ngọc Bảo về tính tích cực của nhận thức nh­ sau: “Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể, thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề học tập nhận thức. Nó vừa là mục đích học tập vừa là phương tiện vừa là điều kiện để đạt được mục đích lại vừa là kết quả hoạt động. Nó là phẩm chất cá nhân”.

Hoạt động nhận thức này chỉ được hình thành khi học sinh có những phẩm chất tự giác, tích cực, độc lập nhận thức dưới sự điều khiển của giáo viên. Từ thái độ tự giác nhận thức mới hình thành ý thức tích cực nhận thức. Nh­ vậy, tính tích cực nhận thức là yếu tố quan trọng trong hoạt động nhận thức của học sinh. Từ đó có thể hiểu rằng, tính tích cực nhận thức là ý thức, thái độ hoạt động tích cực của mỗi người trong quá trình nhận thức nhằm đạt được mục đích đã đề ra. Tính tích cực là cơ sở thuận lợi để phát triển các năng lực khác trong hoạt động nhận thức của mỗi người.

Tính tích cực học tập thể hiện ở khát vọng, hiểu biết, cố gắng nỗ lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Chúng ta có thể dễ dàng nhận biết được tính tích cực học tập của học sinh ở những biểu hiện sau:

- Một là, học sinh tập trung chú ý theo dõi vào những vấn đề đang học, hăng hái, tích cực tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, rất thích được bày tỏ ý kiến của mình về những vấn đề mà giáo viên và các bạn đặt ra.

- Hai là, đào sâu suy nghĩ về những vấn đề đó rồi đ­a ra những thắc mắc, băn khoăn muốn được giải thích cặn kẽ những vấn đề mà mình ch­a hiểu rõ.

- Ba là, chủ động vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã được rèn luyện, cộng với vốn hiểu biết của bản thân để tự mình nhận thức những vấn đề mới.

- Bốn là, hào hứng, say mê tập trung chú ý vào những vấn đề mà giáo viên nêu ra. Kiên trì hoàn thành các bài tập được giao, không nản lòng trước những vấn đề khó khăn…

Ngoài những biểu hiện nêu trên, giáo viên còn có thể nhận biết được tính tích cực học tập của học sinh thông qua những biểu hiện ở cử chỉ, nét mặt, ánh mắt khi theo dõi bài giảng…

* Phương pháp dạy học tích cực là gì?

          Thực tế hiện nay, phương pháp dạy học ở nước ta ch­a đáp ứng được yêu cầu của Giáo dục và Đào tạo. Phần lớn giáo viên vẫn sử dụng phương pháp truyền thống: thầy đọc giảng – trò ghi chép. Phương pháp này đã biến lớp học trở thành nơi phổ biến kiến thức, còn sinh viên trở thành những máy ghi chép, đã không phát huy được tính năng động, sáng tạo của người học, biến họ trở nên thụ động, trì trệ lệ thuộc hoàn toàn vào những gì giáo viên cung cấp. Giáo viên chỉ quan tâm đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là truyền đạt hết nội dung quy định trong ch­ơng trình, cố gắng làm cho sinh viên nhớ và hiểu những điều giáo viên giảng. Cách dạy này của thầy đã đẻ ra cách học tập thụ động, thiên về ghi nhớ, không chịu suy nghĩ, cho nên đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy và học, không đáp ứng được yêu cầu phát triển năng động của xã hội hiện đại.  Để khắc phục tình trạng này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đ­a ra định hướng đổi mới phương pháp dạy học, được xác định trong Nghị quyết Trung ­ương 4 khoá VII (1-1993), Nghị quyết Trung ­ơng 2 khoá VIII (12- 1996) và được thể chế hoá trong Luật Giáo dục. Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Chính vì thế phương pháp dạy học tích cực đã ra đời.

Nh­ư vậy, có thể hiểu, phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn được dùng ở nhiều nước trên thế giới nhằm để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, chuyển dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy người học làm trung tâm để lôi cuốn người học vào trong quá trình tự tìm kiếm, tự khám phá các tri thức mới dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ và khuyến khích của người thầy.

Hiện nay, có một số phương pháp dạy học tích cực có thể dùng trong dạy học các môn y sinh học như­: tích cực hoá phương pháp thuyết trình, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp đàm thoại, phương pháp thực hành…và hướng dẫn xử dụng tài liệu học tập cũng là một trong những phương pháp dạy học tích cực.

2.1.2.2. Hướng dẫn sử dụng tài liệu – một trong những phương pháp dạy học tích cực.

Cũng giống như­ các phương pháp dạy học tích cực khác, phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu học tập cũng có đầy đủ những đặc trư­ng cơ bản của một phương pháp dạy học tích cực:

* Trò là chủ thể của hoạt động giáo dục.

Với phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu , người học được chủ động tích cực phát huy năng lực tư­ duy sáng tạo của mình tức là người học không học thụ động như­ trong các phương pháp dạy học truyền thống là chỉ ngồi nghe thầy giảng và truyền đạt kiến thức rồi ghi chép, về nhà chỉ học những gì có ở trong vở, mà ở đây, trò học tích cực bằng hành động của chính mình, tức là người học tự mình tìm ra “cái ch­a biết”, “cái cần khám phá”, tự mình tìm ra kiến thức, chân lý. Người học không phải được đặt trước những kiến thức có sẵn trong giáo trình hay bài giảng giải áp đặt của thầy giáo mà chính từ kiến thức cơ bản  của giáo trình làm cơ sở nền tảng để giáo viên đặt ra trước sinh viên những tình huống thực tế, cụ thể, thiết thực của cuộc sống yêu cầu sinh viên phải tự giải quyết. Đứng trước những tình huống phong phú đó, kích thích người học cảm thấy có nhu cầu, hứng thú được giải quyết những khó khăn, mâu thuẫn trong nhận thức của mình. Và để tự giải quyết những mâu thuẫn đó, người học bắt đầu cuộc hành trình tra cứu, tìm kiếm thông tin trong các loại tài liệu học tập. Trên cơ sở những thông tin thu thập được, người học phải quan sát, suy nghĩ, thực hành, đặt giả thiết, nêu vấn đề, làm thử, phân tích, phán đoán, tập xử lý tình huống để tự mình giải quyết vấn đề. Quá trình tìm kiếm, lĩnh hội tri thức của người học thông qua giáo trình tài liệu học tập không dập theo một khuôn mẫu sẵn có, đó đều là những tri thức và phương pháp tiếp cận hoàn toàn mới của mỗi cá nhân tuỳ theo nhận thức và trình độ của mỗi người. Cho nên hoạt động tự lực đi tìm cái ch­a biết trên cơ sở của giáo trình tài liệu tham khảo đã thể hiện tính chất sáng tạo đối với sinh viên.

Trong quá trình tự mình đi tìm cái ch­a biết đó, người học sẽ không tránh khỏi mắc phải khó khăn sai lầm: có thể là không hiểu một nội dung trong cuốn tài liệu nào đấy, hay mình nhận thức vấn đề này của cuốn sách này có đúng nh­ thế này không? mà cũng có thể một số thông tin thu l­ợm được lại không chính xác, không đáp ứng được nhu cầu của vấn đề đang đặt ra… Chính những sự cố nh­ thế mới giúp người học hiểu sâu sắc tri thức hơn và rút ra bài học cho bản thân ở những lần làm việc tiếp theo. Cho nên, dân gian có câu: “Học một biết m­ời”, chính là học cách học trong tài liệu, cách làm việc với tài liệu, cách đặt và giải quyết vấn đề trên cơ sở tài liệu thu thập được, cách xử lý các tình huống mà mình gặp phải trong quá trình tra cứu thông tin trong tài liệu và cách tìm ra chân lý mới trên nền tảng những kiến thức đã có trong tài liệu học tập từ đó phát huy tiềm năng tự học sáng tạo trong mỗi con người.

           Nh­ư vậy, thông qua phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu học tập, người học đã học tích cực bằng hành động của chính mình. Trong giờ học, người học được làm việc và thông qua việc làm của mình mà tr­ởng thành: “Làm” dần dần trở thành “biết làm”, “muốn làm” và cuối cùng “muốn tồn tại và phát triển” tạo nên nhân cách một con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo( Làm: chỉ hoạt động tự nghiên cứu, đọc giáo trình tài liệu học tập  của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên để giải quyết được vấn đề).

          Tất nhiên, những kiến thức mà người học tự mình tìm ra bằng hành động của chính mình rất dễ mang tính chủ quan, phiến diện, có thể ch­a phải là kiến thức khoa học. Lúc đó, lớp học sẽ giúp người học khắc phục một phần quan trọng những nh­ợc điểm, thiếu sót đó.

*  Lớp học – cầu nối giữa thầy và trò .

          Lớp học chính là môi trường xã hội làm trung gian giữa thầy và trò, nơi thầy và trò thể hiện hoạt động dạy – học của mình.

          Trong thời đại ngày nay, hoạt động lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học hay quản lý xã hội đều là những hoạt động hợp tác giữa con người với con người hay giữa con người với thiên nhiên thì mới đem lại hiệu quả và năng xuất cao được. Vì thế, hiệu quả sử dụng tài liệu trong học tập, không thể nào là một hành động cá nhân thuần tuý mà là một hành động hợp tác được diễn ra trong môi trường xã hội là lớp học. Kiến thức mà người học thu được từ giáo trình tài liệu vừa là kết quả hành động của bản thân người học lại vừa là sản phẩm của cả tập thể lớp học trước khi nó trở thành khoa học.

          Trong quá trình tự lực khám phá tri thức thông qua giáo trình tài liệu có sự định hướng của thầy, người học có thể sáng tạo ra những tri thức mới, phương pháp hành động mới song những sản phẩm đó có thể ch­a mang tính khách quan, khoa học đầy đủ. Chính vì vậy, người học phải trình bày, bảo vệ tri thức mà mình đã thu l­ợm được ra trước tập thể lớp học để trao đổi, tranh luận với các bạn cùng lớp. Có nh­ vậy, kiến thức chủ quan của người học mới giảm bớt được phần chủ quan, phiến diện, tăng thêm tính khách quan, khoa học cho tri thức. Học bạn, biết cách học bạn, hợp tác với các bạn trong hoạt động học tập của mình, người học mới có thể tự nâng mình lên trình độ mới “Học thầy không tày học bạn”.

          Thông qua việc nghiên cứu, tìm kiếm tri thức từ giáo trình tài liệu học tập dưới sự hướng dẫn của người thầy mà một phần nhân cách của người học được hình thành thông qua vai trò của lớp học – quá trình học cách sống với bạn, tập thể, với xã hội.

          Như­ vậy, học bạn là bước đầu cần thiết mà người học thu nhận được từ lớp học, từ sự tranh luận với bạn về những vấn đề trong tài liệu giáo trình mà người học biết học mọi người, mọi nơi, mọi lúc, mọi thứ và bằng mọi cách.

          Tuy vậy, trong quá trình trao đổi, tranh luận trong lớp học, cả người học, cả tập thể lớp có thể gặp phải những vấn đề nan giải, những tình huống không xử lý được, những cuộc tranh luận không tài nào đi đến kết luận được, những tri thức mới cả lớp ch­a ai biết đến…lúc đó phải nhờ đến người thầy “Không thầy đố mày làm nên”.

*  Thầy – người dẫn đường thông thái.

          Trong phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu , thầy giáo không còn là người truyền đạt kiến thức có sẵn, không còn là người phổ biến kiến thức nữa mà là người định hướng, đạo diễn cho người học tự mình khám phá ra kiến thức, khám phá ra phương pháp tiếp cận kiến thức. Nếu để người học tự đọc tài liệu để học tập thì đó là việc làm khó khăn nếu không có sự hướng dẫn của người thầy. Thầy là người sẽ nêu ra vấn đề, giới thiệu những tài liệu liên quan, hướng dẫn cho sinh viên phương pháp tiếp cận tra cứu tài liệu để có thể lựa chọn đuợc những nội dung tri thức phù hợp với vấn đề mà thầy nêu ra. Nh­ư thế không có nghĩa là hạ thấp vai trò của người thầy: thầy giáo từ chỗ là người thầy bình th­ờng chỉ biết truyền đạt tri thức có trong giáo trình tài liệu đã v­ơn lên thành người thầy giỏi chủ yếu dạy cách tìm ra tri thức khoa học trên cơ sở những giáo trình tài liệu đó. Người thầy dạy cho người học cách tra cứu tài liệu, cách xử lý những khó khăn gặp phải do tài liệu đặt ra, cách tổng hợp những tri thức thu được vào giải quyết vấn đề mà thầy đặt ra. Thầy trở thành người hướng dẫn, cố vấn và là điểm tựa cho người học trong quá trình đi tìm làm việc với tài liệu học tập. Quan hệ giữa thầy và trò trong phương pháp dạy học truyền thống là quan hệ “phục tùng”: thầy nói - trò nghe; thầy đọc - trò chép, nh­ưng với phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu học tập, mối quan hệ thầy – trò dựa trên cơ sở thông cảm, tin cậy, tôn trọng và hợp tác lẫn nhau. Trong quá trình người học vừa tự mình tìm tòi, nghiên cứu tài liệu đồng thời cùng hợp tác với bạn để củng cố kiến thức đã tìm được thì chính thầy giáo là người định hướng cho cá nhân người học hành động, đồng thời cũng là người đạo diễn, tổ chức tập thể lớp giúp cho tri thức mà cá nhân người học tự tìm ra mang tính xã hội, khách quan, khoa học hơn. Khi những thông tin mà cá nhân người học thu l­ợm được có bất đồng với quan điểm của tập thể lớp học, cả cá nhân và cả tập thể lớp đứng trước những vấn đề không giải quyết được, có nhiều ý kiến mâu thuẫn nhau, thì lúc này, vai trò không thể thay thế được của người thầy là phát huy vai trò người trọng tài khoa học. Thầy là người kết luận có tính chất khẳng định về mặt khoa học các cuộc tranh luận ở tập thể lớp, giúp người học xử lý đúng đắn các tình huống phức tạp nổi lên trong quá trình hoạt động học tập.

           Như­ vậy, trong phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu  học tập, thầy là người đạo diễn, tổ chức cho trò biết cách hành động và hợp tác với các bạn, tự mình tìm ra tri thức khoa học và biết cách ứng dụng những tri thức đó vào thực tế cuộc sống.

* Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học cho trò.

          Có lẽ trong số các phương pháp dạy học tích cực hiện nay, thì phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu học tập là phương pháp gắn liền với việc rèn luyện tính tự học cho học sinh. Bản thân phương pháp này đã thể hiện tính tích cực, tự lực của học sinh trong học tập, tự học ở trên lớp và tự học ở nhà, biểu hiện:

- Trước khi đến lớp, người học phải có quá trình tra cứu, tìm kiếm tài liệu rồi đọc, nghiên cứu để tích luỹ kiến  thức chuẩn bị cho bài học trên lớp.

-  Ở trên lớp, dưới sự hướng dẫn, gợi mở của thầy cộng với thông tin thu l­ợm được cảu bản thân, ng­òi học được trình bày ý kiến hiểu biết của mình về vấn đề thầy nêu ra tập thể lớp, rồi cùng tranh luận với các bạn nhằm giải quyết vấn đề mà thầy đư­a ra.

- Ngoài giờ lên lớp, sinh viên lại phải chủ động tìm kiếm những tài liệu học tập có liên quan đến những vấn đề đã học và sắp học để tích luỹ kiến thức, hiểu biết xã hội.

Ngày nay, xã hội đang phát triển với sự bùng nổ của thông tin, khoa học, kĩ thuật và công nghệ, lượng kiến thức cập nhật ngày càng nhiều với tốc độ ngày càng nhanh, cho nên, nếu nh­ chúng ta vẫn sử dụng phương pháp truyền thống thì không thể nhồi nhét hết những kiến thức đó cho sinh viên. Vì vậy, thay bằng phổ biến kiến thức cho sinh viên, người thầy sẽ rèn luyện cho sinh viên có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho học lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người và phát huy tính sáng tạo của họ.

* Kiểm tra của thầy và tự đánh giá của trò.

Trong những phương pháp dạy học trước đây, giáo viên giữ vai trò độc quyền trong việc đánh giá sinh viên. Nhưng phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu  học tập thì không nh­ư thế, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên được giáo viên hướng dẫn để cho họ tự kiểm tra, đánh giá mình và đánh giá bạn bè mình dưới sự giám sát, kiểm tra của thầy

Trong quá trình tự mình tìm kiếm thông tin qua giáo trình tài liệu học tập thì tri thức mới sẽ nảy sinh về một vấn đề nào đó nhưng có thể là ch­a chính xác, ch­a khoa học, ch­a phù hợp với yêu cầu của vấn đề mà thầy nêu ra cho nên người học sẽ trao đổi, hợp tác với các bạn, được các bạn nhận xét góp ý cùng với nhận xét  kết luận của thầy, người học tự đánh giá lại tri thức ban đầu của mình, tự điều chỉnh, sửa chữa những sai lầm, thiếu sót trong sản phẩm đó, rồi tự rút kinh nghiệm về cách học, cách giải quyết vấn đề và tự điều chỉnh, tự hoàn thiện tri thức của mình cho chính xác hơn, khoa học hơn.

Một khi người học tự biết nhận ra sai sót của mình và tự mình biết cách sửa sai, đó là người biết học, biết cách học, cần được thầy đánh giá, ghi nhận. Cho nên, khi thầy kiểm tra, đánh giá người học sẽ căn cứ vào kết quả tự đánh giá và tự sửa sai của trò.

Trên đây là năm đặc trưng cơ bản thể hiện tính tích cực của phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu học tập. Với xu hướng cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học trong quá trình dạy học hiện đại, từ những năm năm m­ơi của thế kỷ XX, đã có nhiều phương pháp dạy học mới ra đời nhằm tích cực hoá, cá biệt hoá hoạt động học tập của người học nhằm đáp ứng yêu cầu cao của sự phát triển đời sống xã hội nh­: phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp động não…Hướng dẫn sử dụng tài liệu, trong lý luận dạy học Đại học đã khẳng định đây là một phương pháp dạy học. Phương pháp này ở nước ta còn “mới mẻ” vì ít được giáo viên và sinh viên quan tâm đến, nhưng đối với các nước trên thế giới thì phương pháp này đã trở thành một phương pháp dạy học tích cực.

Ngày nay chúng ta đang bước vào một cuộc cách mạng mới: cách mạng siêu công nghiệp, t­ơng ứng với nó là một xã hội mới đang manh nha – xã hội siêu công nghiệp: một xã hội bùng nổ thông tin, có tốc độ biến đổi nhanh tạo ra “cú sốc t­ơng lai”, một xã hội mà “kiến thức là quyền lực” thì các nhà giáo siêu công nghiệp không nên áp đặt giá trị cho học sinh mà họ phải biết tổ chức một cách có hệ thống những hoạt động chính thức và bán chính thức nhằm giúp học sinh tự xác định, thử nghiệm những giá trị của bản thân mình. Theo Alvin Toffer, nhà t­ơng lai học người Mỹ, trong cuốn: Fetere Shock – 1970 có nói: “các trường học ngày mai không phải chỉ dạy thông tin dữ liệu mà còn dạy cách sử lý nó… Học là học cách học” thì phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu học tập đã làm được việc đó. 

2.1.3. Mối quan hệ giữa phương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu với các phương pháp dạy học khác.

Không có một phương pháp dạy học nào là tối ư­u hoàn toàn, cũng không có phương pháp dạy học nào là tốt hay không tốt. Những cái đó chỉ là mang tính t­ơng đối, t­ơng đối nằm trong cái tuyệt đối. Trong quá trình dạy học, áp dụng phương pháp dạy học nào và nh­ thế nào là phụ thuộc vào nội dung, mục tiêu bài học và đối tượng người học. Nhưng dù là phương pháp nào thì trong một bài học, giáo viên không nên chỉ sử dụng một phương pháp duy nhất mà nên có sự kết hợp linh hoạt, sáng tạo một số phương pháp dạy học cho phù hợp.

Phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu học tập là một trong những phương pháp dạy học tích cực và được đặt trong mối quan hệ biện chứng với các phương pháp dạy học tích cực khác. Nếu như­ trong một giờ học mà giáo viên chỉ toàn sử dụng phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu  học tập thì giờ học cũng trở nên buồn và khô khan. Ngày nay, chúng ta ra sức kêu gọi là phải đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học trong nhà trường để  phát huy tính tích cực, năng động, tự lực, sáng tạo của người học, khơi dậy mọi tiềm năng sẵn có trong mỗi con người. Nhưng từ trước đến nay, trong nhà trường phần lớn chỉ sử phương pháp truyền thống: thuyết trình, giảng giải; học sinh chúng ta đã quen với kiểu thầy đọc – trò chép; thầy giảng – trò nghe, bây giờ chúng ta chuyển ngay sang phương pháp dạy học tích : bắt các em từ chỗ bị động sang chủ động ngay sẽ rất khó khăn. Hơn nữa, để áp dụng được các phương pháp  dạy học tích cực khác nh­: nêu vấn đề, hoạt động nhóm, động não…thì giáo viên phải có sự chuẩn bị kỹ lư­ỡng về giáo trình, tài liệu liên quan, những câu hỏi gợi ý, dự đoán những tình huống sư­ phạm có khả năng xảy ra…còn bản thân học sinh cũng phải nghiên cứu trước nội dung cơ bản trong giáo trình, tìm kiếm những thông tin kiến thức ở những tài liệu liên quan tức là phải có sự chuẩn bị trước về những vấn đề mà giáo viên nêu ra thì học sinh mới có thể thảo luận,  tranh luận để bày tỏ quan điểm ý kiến của mình về vấn đề đó trước tập thể lớp, trên cơ sở đó giáo viên mới phát huy được vai trò của mình là người trọng tài khoa học của lớp học. Có như­ thế thì phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh mới đạt hiệu quả cao.

Và như­ thế, muốn thực hiện được những phương pháp dạy học tích cực khác thì trước tiên, giáo viên phải bắt đầu từ phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu  học tập cho học sinh.

2.1.3.1. Hướng dẫn sử dụng tài liệu với tích cực hoá phương pháp thuyết trình.

Phương pháp thuyết trình là dùng lời nói của giáo viên để thuyết minh, trình bày một vấn đề có tính chất lý luận, nhằm truyền đạt, thông báo một nội dung khoa học nào đó. Đây là một phương pháp dạy học truyền thống được dùng phổ biến trong các trường học và hiện nay vẫn cần tiếp tục được sử dụng. Bởi vì, các môn y sinh học là môn học chứa đựng rất nhiều các khái niệm, phạm trù khoa học vừa mang tính cụ thể vừa khái quát trìu tượng cao, cho nên, việc sử dụng phương pháp này cho phép giáo viên có thể truyền đạt những nội dung kiến thức tư­ơng đối khó, trìu tượng, phức tạp lại chứa đựng nhiều thông tin mà sinh viên không dễ tìm được.

Giáo viên có thể sử dụng phương pháp thuyết trình trong những trường hợp sau:

- Giới thiệu những phạm trù, khái niệm khoa học mới.

- Thuyết trình theo kiểu kể chuyện: trong quá trình giảng, giáo viên có thể thông qua những thông tin mới về y sinh học, những câu chuyện trong văn học, phim ảnh để chứng minh cho những kết luận về y sinh học .

- Thuyết trình mô tả phân tích: nhiều kiến thức y sinh học có thể được mô hình hoá dưới dạng sơ đồ, bảng biểu hay đồ thị về các hiện tượng sinh lý… cho nên giáo viên chỉ có thể sử dụng phương pháp thuyết trình mô tả phân tích thì học sinh mới có thể hiểu đựơc.

- Thuyết trình dưới hình thức phê phán:  việc dạy học y sinh học luôn gắn liền với việc phê phán  những thói hư tật xấu, quan điểm tầm thư­ờng, phản khoa học. Vì vậy, hình thức này vẫn được sử dụng một cách có hiệu quả trong dạy học y sinh học hiện nay.

Ưu điểm lớn nhất của phương pháp thuyết trình là giáo viên có thể truyền đạt một lượng thông tin rất lớn cùng một lúc cho nhiều sinh viên khác nhau, nhưng nó cũng có như­ợc điểm không nhỏ là không phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh, khiến cho học sinh trì trệ, thụ động lệ thuộc quá nhiều vào bài giảng của giáo viên. Để phát huy ­ưu điểm và hạn chế bớt như­ợc điểm của phương pháp thuyết trình trong dạy học ngày nay, giáo viên nên tích cực hoá phương pháp thuyết trình theo hướng thuyết trình nêu vấn đề, thuyết trình theo kiểu thuật chuyện, thuyết trình theo kiểu mô tả phân tích.. hoặc kết hợp thuyết trình với phát vấn, thảo luận nhóm...Nhưng để tích cực hoá phương pháp thuyết trình có hiệu quả phải dựa trên nền tảng học viên có tài liệu và biết cách sử dụng tài liệu để thực hiện những nhiệm vụ nói trên.

2.1.3.2. Hướng dẫn sử dụng tài liệu với phương pháp nêu vấn đề:

Phương pháp dạy học nêu vấn đề tức là giáo viên nêu ra trước học sinh những vấn đề của bài học, dùng lời nói hướng dẫn học sinh đi vào tình huống có vấn đề và yêu cầu học sinh phải giải quyết vấn đề đó.

Phương pháp dạy học nêu vấn đề có 3 đặc trưng cơ bản sau:

- Giáo viên đặt ra cho học sinh những bài toán nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái ch­a biết và cái phải tìm.

- Học sinh chủ động tiếp nhận bài toán nhận thức đó và cảm thấy cần thiết phải giải quyết nó.

- Trong quá trình giải quyết bài toán nhận thức, học sinh lĩnh hội được nội dung và cách thức giải quyết một cách tự giác, tích cực và hứng thú.

Để có thể giải quyết được vấn đề mà giáo viên đ­ưa ra đòi hỏi học sinh :

- Một là: có nhu cầu, hứng thú phải giải quyết bằng được những tình huống có vấn đề mà giáo viên nêu ra trong bài học.

- Hai là: phải có khả năng lập luận, lý giải, phân tích những vấn đề mà giáo viên nêu ra.

- Ba là: học sinh ít nhiều đã có những hiểu biết, kiến thức liên quan đến những vấn đề mà giáo viên nêu ra.

Nhưng để học sinh có thể thực hiện được tất cả những yêu cầu trên thì trước tiên học sinh phải có sự chuẩn bị chu đáo về những nội dung liên quan đến vấn đề mà giáo viên nêu ra. Sự chuẩn bị đó chính là quá trình học sinh phải tìm kiếm, nghiên cứu những kiến thức liên quan thông qua giáo trình tài liệu học tập từ ở nhà và ngay trên lớp, trên cơ sở đó học sinh sẽ tích luỹ được vốn kiến thức cơ bản làm cơ sở để tiến hành trao đổi, thảo luận trước tập thể lớp cùng nhau giải quyết những vấn đề giáo viên nêu ra.

Nh­ư vậy, để phương pháp dạy học nêu vấn đề đạt hiệu quả thì trước tiên học sinh và giáo viên phải bắt đầu từ việc sử dụng giáo trình tài liệu học tập.

2.1.3.3. Hướng dẫn sử dụng tài liệu với phương pháp thảo luận nhóm:

          Có thể nói đây là một trong những phương pháp dạy học các môn y sinh học mà phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh hiện nay. Trong phương pháp này, giáo viên đóng vai trò vừa là người hướng dẫn khoa học lại vừa là trọng tài xử lý và kết luận những vấn đề khoa học. Học sinh được tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động, cùng nhau trao đổi, thảo luận chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến nội dung bài học.

 Các bư­ớc tiến hành dạy học bằng thảo luận:

- Bước 1: Chuẩn bị nội dung thảo luận của người thày.

          + Thầy lựa chọn chủ đề thảo luận cho phù hợp với mục tiêu học tập và phù hợp với khả năng, điều kiện học tập của học sinh.

+ Thày phải xác định các mục tiêu thảo luận là vấn đề mà học sinh cần phải đạt được sau thảo luận.

+ Thầy xác định thời gian thảo luận trong khoảng bao lâu.

+ Chuẩn bị các câu hỏi lớn  và dự đoán những tình huống có thể xảy ra trong quá trình thảo luận.

- Bư­ớc 2: Tổ chức thảo luận.

+ Giáo viên nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, yêu cầu thảo luận cho mỗi nhóm, quy định thời gian thảo luận và phân công vị trí ngồi cho mỗi nhóm.

+ Các nhóm tiến hành thảo luận.

+ Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm. Các nhóm khác lắng nghe, chất vấn, trao đổi, bổ sung ý kiến của nhóm mình.

+ Giáo viên nhận xét, và kết luận các ý kiến của từng nhóm và tổng kết chung cho cả buổi thảo luận.

Về thực chất, phương pháp thảo luận nhóm là tổ chức cho học sinh bàn bạc, trao đổi trong nhóm nhỏ. Phương pháp này giúp cho học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho họ có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến nội dung bài học.

Hoạt động chính của phương pháp thảo luận nhóm: các nhóm tiến hành trao đổi, bàn bạc, thảo luận về chủ đề mà giáo nêu ra, sau đó đại diện nhóm sẽ lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình. Các nhóm khác lắng nghe, chất vấn, trao đổi, bổ sung ý kiến. Nhưng để hoạt động này có thể thực hiện được đòi hỏi học sinh phải có sự chuẩn bị chu đáo về mặt kiến thức trước khi thảo luận: học sinh nắm rõ bản chất, yêu cầu và nhiệm vụ của vấn đề cần thảo luận; những nội dung cơ bản của vấn đề sẽ thảo luận;  học sinh phải tra cứu tài liệu, đọc giáo trình, lập đề cư­ơng dàn ý cơ bản những vấn đề mà mình cần thảo luận trên lớp...Đây chính là những thao tác của việc sử dụng giáo trình tài liệu trong học tập để tích luỹ kiến thức, hiểu biết về vấn đề nào đó rồi mới tiến hành thảo luận trên lớp được.    

2.1.3.4. Hướng dẫn sử dụng tài liệu với phương pháp tự học:

Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp” .

Có thể nói trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay với rất nhiều lượng tri thức phong phú, sâu rộng thì vấn đề tự học của học sinh đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển. Tự học của các em SV hiện nay không đòi hỏi mức độ cao nh­ tự học của các nhà nghiên cứu nhưng sẽ là cơ sở để các em tiếp cận dần với nghiên cứu khoa học sau này. Tự học của các em chủ yếu dựa vào các bài học cụ thể trong sách giáo trình, những tài liệu có liên quan đến bài học để đối chiếu, so sánh mở rộng làm cho quá trình nhận thức  của SV mang tính chủ động và có tính chất nghiên cứu.

Để có thể thực hiện tốt việc tự học, SV cần rèn luyện thói quen làm những công việc sau:

- Đọc giáo trình và những tài liệu tham khảo rồi nghiền ngẫm tỉ mỉ những điều đã đọc: phải biết được rằng cuốn sách ấy đã mang lại cho mình những điều gì mới mẻ, đã cung cấp cho mình những kiến thức cơ bản nào; tác giả muốn chứng minh điều gì trong từng ch­ơng, từng mục, tác giả muốn bảo vệ những t­ t­ởng cơ bản nào…

- Ghi chép những điều đã đọc, làm tóm tắt, lập dàn ý và đề c­ơng, trích những luận điểm và dẫn chứng.

- Làm báo cáo tổng hợp những điều đã thu l­ượm được sau quá trình đọc giáo trình tài liệu.

Việc nghiên cứu giáo trình và những tài liệu tham khảo là trọng tâm của công tác tự học của SV. Một khi SV đạt được điều gì đó nhờ vào quá trình nỗ lực của bản thân thì những kiến thức họ đạt được sẽ theo họ trong suốt cuộc đời. Thông qua quá trình tự học mà SV nâng cao được năng lực tự học cho bản thân. Có những tài liệu giáo trình SV có thể tự học được, nhưng phần lớn có những điều không phải tự bản thân SV có thể làm được mà họ cần phải được GV hướng dẫn cụ thể đồng thời đánh giá kết quả  làm việc của họ. Không phải bất cứ SV nào cũng có được cái kỹ năng tự học, tự nghiên cứu giáo trình tài liệu mà những kỹ năng đó phải cần đến sự hướng dẫn rèn luyện của GV. Sự hướng dẫn SV kỹ năng đọc giáo trình tài liệu phải được thực hiện ngay trên lớp, ngay trong những giờ học hàng ngày và th­ường xuyên để tạo cho SV thói quen đọc sách, thói quen làm việc với sách. Kỹ năng đấy chỉ có đựơc khi GV sử dụng phương pháp hướng dẫn sử dụng giáo trình tài liệu trong học tập cho SV và nh­ thế tức là GV cũng đã hướng dẫn cho SV phương pháp tự học – tự học trên lớp, tự học ở nhà và có thể tự học ở bất cứ đâu thông qua giáo trình tài liệu.

 Nh­ư vậy, có thể nói rằng, những phương pháp dạy học tích cực ngày nay muốn thực hiện có hiệu quả thì trư­ớc tiên: giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị tài liệu giáo trình có liên quan đến bài học; học sinh nghiên cứu, tìm hiểu những nội dung cơ bản của giáo trình tài liệu để tích luỹ kiến thức giải quyết những vấn đề mà giáo viên nêu ra. Phương pháp hướng dẫn xử dụng tài liệu chính là cơ sở, là nền tảng, là chìa khoá để thực hiện những phương pháp dạy học tích cực khác.

Đăng nhập

Thông tin liên hệ

Khoa Y sinh học
Trường Đại học TDTT TW I
Từ Sơn, Bắc Ninh

Điện thoại: 0241.2246128
Fax:02413832550

Trang liên hệ

Trực tuyến

 Khoa Y học TDTT hỗ trợ trực tuyến

    - 

 - Giải quyết thắc mắc về thông tin công bố, điểm thông báo

- Tư vấn học tập, chính sách chế độ với sinh viên

- Tư vấn hướng nghiệp, việc làm sau ra trường

Facebook: ysinhhoctdtt khoa 

https://www.facebook.com/ysinhhoctdtt.khoa

Email: khoaysinhhoctdtt@gmail.com

webside liên kết

Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh

http://www.dhtdtt1.edu.vn/

Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch

http://www.cinet.gov.vn/

Người dùng trực tuyến

Hiện đang có 0 users1 khách trực tuyến.