Tài liệu môn học Y tế cơ sở

Bài 2: Tiếp đón bệnh nhân nhập viện, chuyển viện, xuất viện

1. tiếp đón bệnh nhân nhập viện

1.1 Mục đích

Bệnh nhân vào viện thường có trạng thái lo âu, sợ hãi vì vậy điều quan trọng là người cán bộ y học phải tiếp đón bệnh nhân nhiệt tình lịch sự, thông cảm với nỗi lo âu của bệnh nhân làm cho bệnh nhân mới đến cảm thấy dễ chịu, gây ấn tượng ban đầu tốt đẹp cho bệnh nhân.

1.2 Các thủ tục hành chính khi bệnh nhân vào viện: 

1.2.1 Trường hợp cấp cứu:

- Chuyển ngay vào phòng cấp cứu, ghi họ tên, tuổi, địa chỉ bệnh nhân, cơ quan và gia đình, ngày giờ, lý do đến phòng khám, ghi lại tên địa chỉ người đưa bệnh nhân đến, phương tiện vận chuyển và tình trạng bệnh nhân.

- Kiểm kê lại tài sản của bệnh nhân để bần giao lại cho người nhà hoặc khoa phòng tiếp nhận bệnh nhân.

1.2.2 Trường hợp bình thường:

Khi bệnh nhân vào viện cần có:

- Giấy giới thiệu của cơ quan y tế tuyến dưới.

- Giấy chứng nhận miễn, trừ viện phí.

- Lập hồ sơ cho bệnh nhân (cần ghi rõ và đủ các mục ở phần đầu bệnh lịch): Tên tuổi, quê quán, lý do vào viện....

- Biên nhận tài sản bệnh nhân đã giữ lại.

1.3 Quy trình nhập viện: 

1.3.1 Tiếp đón bệnh nhân tại phòng khám

a) Chuẩn bị phòng đợi

- Phòng phải sạch đẹp, gọn gàng yên tĩnh.

- Đầy đủ ghế cho bệnh nhân ngồi chờ.

- Có tranh ảnh, áp phích cho bệnh nhân xem, đọc trong thời gian chờ

- Phát phiếu vào khám theo thứ tự

b) Chuẩn bị phòng khám

- Sắp xếp phòng khám gọn gàng sạch sẽ đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.

- Chuẩn bị bình phong, giường khám bệnh, bàn ghế.

- Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ cho bác sĩ khám bệnh:

Dụng cụ tổng quát: ống nghe, đèn, búa phản xạ, nhiệt kế, huyết áp kế.

Dụng cụ khám chuyên khoa.

- Chuẩn bị đầy đủ các loại giấy tờ thủ tục hành chính (hồ sơ bệnh án, sổ theo dõi bệnh nhân ra vào bệnh viện, giấy xét nghiệm...).

c) Tiếp đón bệnh nhân

*Tiếp xúc với bệnh nhân

- Chào hỏi bệnh nhân, tự giới thiệu mình với bệnh nhân, gọi tên bệnh nhân một cách thích hợp theo tập quán. Đối với bệnh nhân lớn tuổi không được gọi tên không mà phải gọi cả tên và thứ bậc theo tuổi (bác, ông...). Cách ứng xử và cách nói của cán bộ y học viên sẽ gây ấn tượng rất lớn cho bệnh nhân.

- Hướng dẫn các thủ tục cần thiết trước khi vào khám bệnh.

- Sắp xếp chỗ ngồi cho bệnh nhân ở phòng đợi, mời bệnh nhân vào khám theo thứ tự.

Lưu ý: ưu tiên bệnh nhân cấp cứu, bệnh nhân nặng, người già, trẻ em.

* Nhận định bệnh nhân

- Khai thác tiền sử bằng cách phỏng vấn bệnh nhân hoặc thân nhân về thời gian mắc bệnh, bệnh sử hiện tại và bệnh sử trước kia.

- Quan sát bệnh nhân: sử dụng các giác quan: Nhìn, sờ, nghe, ngửi.

* Đo các dấu hiệu sinh tồn (nếu là bệnh nhân cấp cứu, cán bộ y học viên phải chủ động xử trí trước khi mời bác sĩ).

Ví dụ: Bệnh nhân khó thở cho nằm đầu cao.

Bệnh nhân tim tái cho thở oxy.

Bệnh nhân hôn mê cho nằm đầu ngửa tối đa nghiêng về một bên.

* Mời bác sĩ khám và cho hướng xử trí:

- Hỗ trợ thầy thuốc khám bệnh

- Thực hiện tốt các kỹ thuật chuyên mon theo yêu cầu

* Trường hợp bệnh nhân không phải nằm viện:

- Cán bộ y học nhắc nhở bệnh nhân thực hiện nghiêm chỉnh y lệnh điều trị của thầy thuốc.

- Hướng dẫn bệnh nhân biết cách chǎm sóc sức khỏe và phòng các bệnh khác.

* Trường hợp bệnh nhân vào viện:

- Làm thủ tục cho bệnh nhân nhập viện.

- Hướng dẫn bệnh nhân vệ sinh cá nhân, giúp bệnh nhân thay quần áo nếu họ không tự làm được.

Đưa bệnh nhân vào khoa điều trị, trường hợp bệnh nhân không đi được dùng cáng hoặc xe lǎn chuyển bệnh nhân.

1.3.2 Tiếp nhận bệnh nhân vào khoa:

a) Chuẩn bị dụng cụ và các phương tiện:

Chuẩn bị đầy đủ các phương tiện cần thiết về thủ tục hành chính và dụng cụ chuyên môn như:

- Bảng kế hoạch chǎm sóc bệnh nhân.

- Phiếu theo dõi bệnh nhân.

- Các dụng cụ: huyết áp kế, ống nghe.

- Giường, quần áo, chǎn màn.

- Các dụng cụ khác như: phích nước, ca, cốc, bát, thìa, bô, bình đái.

b) Nhận bàn giao:

- Bệnh nhân, tình trạng bệnh nhân.

- Hồ sơ bệnh án.

c) Dẫn bệnh nhân vào buồng bệnh:

Giới thiệu giường bệnh nhân và giúp bệnh nhân nghỉ ngơi, an toàn khi vào nằm điều trị, phổ biến nội quy bệnh viện, giới thiệu các nơi để bệnh nhân tiếp xúc khi cần.

- Xếp giường nằm cho bệnh nhân.

- Nếu bệnh nhân nằm ở phòng riêng đóng cửa phòng hoặc kéo bình phong cho kín đáo.

- Cung cấp các dụng cụ cá nhân (nếu cần) nâng thành giường lên đảm bảo an toàn cho bệnh nhận (nếu có).

d) Nhận định quan sát bệnh nhân: Mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, cân, đo cho bệnh nhân.

Tình trạng chung của bệnh nhân (đặc biệt là bệnh nhân trẻ em).

- Bệnh nhân tỉnh táo lơ mơ hay li bì.

- Tình trạng da: da xanh hay nhợt nhạt, bầm tím, da khô có lở loét, nhiễm khuẩn.

Tình trạng khó thở, kiểu thở.

- Ho khan hay có đờm, tính chất, màu sắc số lượng đờm.

- Đau: cảm giác, vị trí đau, tính chất đau: âm ỉ, dữ dội.

- Có rối loạn ngôn ngữ không.

- Khả nǎng nghe: (điếc)

- Nhìn (mù lòa, cận thị).

- Các bộ phận giả (rǎng giả, mắt giả, hậu môn nhân tạo...)

- Nghe những than phiền của bệnh nhân.

c) Giải thích hướng dẫn cho bệnh nhân và thân nhân:

+ Cách sử dụng các phương tiện của khoa: bật tắt công tắc điện, quạt, ti vi đài (nếu có), nhà tắm, nhà vệ sinh...

  

+ Thông báo cho bệnh nhân và thân nhân chấp hành nghiêm chỉnh nội quy khoa phòng.

- Giờ khám bệnh.

- Thường quy đi buồng.

- Giờ vào thǎm.

- Giữ gìn vệ sinh trật tự buồng bệnh, không hút thuốc lá, không gây ồn ào trong buồng bệnh, bỏ các đồ thải vào nơi quy định.

g) Ghi vào hồ sơ bệnh nhân ngày giờ vào viện:

Ghi chép các thông số theo dõi và phiếu theo dõi.

li) Báo cáo với cán bộ y học trưởng và bác sĩ: sau khi hoàn thành các thủ tục tiếp nhận bệnh nhân vào khoa và các dấu hiệu bất thường của bệnh nhân (nếu có).

i) Trợ giúp bác sĩ khám bệnh và làm các xét nghiệm cần thiết

k) Thực hiện tốt các y lệnh điều trị.

2. CHUYỂN BỆNH NHÂN  

2.1 Mục đích:

Trong thời gian nằm điều trị tại bệnh viện do tính chất và quá trình diễn biến của bệnh tật. Khi bác sĩ ra quyết định bệnh nhân có thể được chuyển từ phòng này sang phòng khác, khoa này sang khoa khác hoặc viện này sang viện khác.

Bệnh nhân có thể lo lắng khi bác sĩ yêu cầu chuyển, do đó cán bộ y học viên nên giải thích cho bệnh nhân hiểu được sự di chuyển này sẽ giúp cho bệnh nhân nhận được sự chǎm sóc và điều trị tốt hơn.

2.2 Các thủ tục cần thiết của việc chuyển khoa, chuyển viện. 

2.2.1 Chuyển khoa phòng:

- Cán bộ y học viên phải liên hệ với khoa phòng mới để bố trí thời gian chuyển bệnh nhân đến.

- Báo cho y vụ biết để làm mọi thủ tục chuyển bệnh nhân và chuẩn bị phương tiện vận chuyển nếu cần.

- Giải thích cho bệnh nhân và gia đình lý do chuyển và ngày giờ chuyển.

- Khi đưa bệnh nhân đến khoa phòng mới phải bàn giao đầy đủ hồ sơ bệnh án. Phản ánh những đặc điểm về tư tưởng và sinh hoạt của bệnh nhân để khoa phòng mới tiếp tục quản lý. Đưa bệnh nhân tới tận giường bệnh rồi mới trở về.

2.2.2. Chuyển viện:

Điều dường viên phải liên hệ với bệnh viện mới để bố trí thời gian chuyển bệnh nhân đến. Nếu là bệnh nhân cấp cứu thì phải gọi điện thoại báo trước.

Báo cho y vụ biết để làm mọi thủ tục chuyển bệnh nhân và chuẩn bị phương tiện vận chuyển. Chuẩn bị giấy tờ chuyên môn: tóm tắt bệnh án và các tài liệu điều trị (X quang, xét nghiệm, v.v...).

Báo cho bệnh nhân biết ngày giờ chuyển viện, giải thích rõ lý do để bệnh nhân yên tâm, đồng thời báo cho gia đình họ biết. Bàn giao lại cho bệnh nhân đồ dùng tư trang của họ gửi.

- Khi chuyển cán bộ y học viên phải đi cùng với bệnh nhân và có chuẩn bị sẵn phương tiện xử trí khi đi đường (hộp thuốc cấp cứu...).

- Khi đến nơi cán bộ y học viên phải bàn giao đầy đủ giấy tờ và phản ánh những đặc điểm về tư tưởng và sinh hoạt của bệnh nhân để cơ sở điều trị mới tiếp tục quản lý. Đưa bệnh nhân tới phòng khoa, ký nhận bàn giao xong mới về. 

2.3 Quy trình chuyển bệnh nhân. 

2.3.1 Các phương pháp đặt cáng:

a) Song song.

- Song song gần: Cáng sát với thành giường

- Song song xa: Cáng cách giường bệnh nhân 1 mét.

b) Vuông góc: Chân cáng vuông góc với đầu bệnh nhân.

c) Nối tiếp: đầu cáng nối tiếp với chân giường.

2.3.2 Chuyên khoa, phòng, viện:

a) Giúp bệnh nhân: thu dọn tư trang cá nhân để chuyển đi.

b) Chuyển bệnh nhân đến: khoa mới viện mới cùng với tư trang cá nhân bằng phương pháp vận chuyển an toàn và thích hợp (dìu, cáng, xe đẩy,ô tô...).

Hình 5: Vận chuyển bệnh nhân an toàn (trang 42)

c) Bàn giao bệnh nhân với nhân gian khoa mới, viện mới:

- Tình trạng bệnh nhân, các thủ tục hành chính chuyên môn, tư trang của bệnh nhân.

- Ký nhận bàn giao với cán bộ y học của khoa mới, viện mới.

d) Trở về khoa mình báo cáo với cán bộ y học trưởng:

- Bệnh nhân đã chuyển đến khoa mới an toàn.

- Ngày, giờ chuyển.

- Tình trạng bệnh nhân khi di chuyển.

3. BệNH NHÂN RA VIệN:

Khi ốm đau bệnh nhân chỉ nằm viện trong một thời gian ngắn. Bệnh nhân ra viện thường vẫn còn yếu, mệt, bệnh tật có khả nǎng còn tái phát. Khi bệnh nhân về nhà là giai đoạn hồi phục sức khỏe, giai đoạn này sẽ dài hơn. Lúc này cán bộ y học viên vẫn phải nhiệt tình nhã nhặn và có trách nhiệm hướng dẫn tuyên truyền giáo dục sức khỏe để người bệnh có khả nǎng chǎm sóc bản thân họ tại nhà và nâng cao sức khỏe.

3.1 Các thủ tục cần thiết của việc xuất viện:

- Phải tập trung đầy đủ hồ sơ bệnh án. Có ghi rõ ngày, giờ ra viện và kết quả điều trị.

- Chuyển hồ sơ bệnh nhân lên phòng y vụ để làm thủ tục ra viện.

- Báo cho gia đình hoặc cơ quan bệnh nhân biết để đón bệnh nhân và thanh toán viện phí.

- Dặn dò bệnh nhân những điều cần lưu ý về điều trị phòng bệnh để duy trì kết quả điều trị. Nếu bệnh nhân có khám lại theo định kỳ thì phải báo rõ ngày giờ đến khám lại, giải quyết các thắc mắc của bệnh nhân nếu có.

- Giải thích cho bệnh nhân biết rõ kết quả điều trị, cách điều trị tiếp theo tại nhà, hướng dẫn cách ǎn uống nâng cao thể trạng, chuẩn bị giấy tờ, báo cho gia đình biết trước để đón, thông báo cho bệnh nhân và thân nhân biết về tình hình ra viện, ngày giờ ra viện và thủ tục hành chính.

3.2. Chuẩn bị dụng cụ:

Các phương tiện vận chuyển thích hợp.

3.3 Kỹ thuật tiến hành:

a) Giúp cho bệnh nhân thu gọn tư trang cá nhân và trả lại đồ dùng cho khoa

- Thanh toán viện phí.

- Giúp bệnh nhân thay, mặc quần áo, trả lại quần áo cho viện (đối với trẻ em, người già, tàn tật).

b) Kiểm tra: xem bệnh nhân đã nhận được giấy ra viện, y lệnh của bác sĩ để thực hiện tại nhà, giấy hẹn của bác sĩ hay khoa phòng.

c) Hướng dẫn giáo dục sức khỏe: khuyên bảo bệnh nhân về chế độ ǎn uống, tập luyện.

d) Giúp bệnh nhân: ra khỏi phòng lên xe chào tạm biệt và chúc sức khỏe bệnh nhân.

Hình 6: Tiễn bệnh nhân ra xe và chào tạm biệt (trang 44)

e) Trở lại khoa thu dọn vải trải giường cho vào túi đựng đồ bẩn

g) Thông báo cho hộ lý biết bệnh nhân đã ra viện để vệ sinh buồng bệnh.

h) Báo cáo cho cán bộ y học trưởng biết đã hoàn thành nhiệm vụ cho bệnh nhân ra viện.

Bài 3: Kỹ thuật chườm nóng, chườm lạnh

1. Đại Cương 

1.1 Mục đích.

Chườm nóng, chườm lạnh có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chǎm sóc bệnh nhân, điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn và một số trường hợp chấn thương. Chườm nóng, chườm lạnh là những thủ thuật khá đơn giản thường được chỉ định song đòi hỏi người cán bộ y học khi áp dụng phải hiểu rõ cơ chế tác dụng, hiệu quả của sức nóng, lạnh trên cơ thể, đồng thời phải quan sát, theo dõi sát bệnh nhân để tránh làm bệnh nhân nóng quá, lạnh quá gây bỏng da vùng chườm.

1.2. áp dụng. 

1.2.1 Chườm nóng:

- Cắt cơn đau dạ đày, gan hoặc thận

- Viêm thanh quản thể co rít, viêm khí quản

- Chườm nóng cho trẻ thiếu tháng, người già khi trời rét,

1.2.2 Chườm lạnh:

a) Nội khoa:

- Xuất huyết nội ngoài nguyên nhân xuất huyết do phổi.

- Sốt cao trong các bệnh nhiễm khuẩn

- Bệnh ở não, màng não

- Trong một số trường hợp đau bụng, đau ngực

b) Ngoại khoa:

- Viêm màng bụng, viêm ruột thừa, viêm phần phụ

- Chấn thương sọ não

- Sau mổ cắt tuyến giáp (trong bệnh cường tuyến giáp)

- Chấn thương cấp tính như: Đụng dập, dãn dây chằng, đứt dãn cơ….

c) Sản khoa:

Nhiễm khuẩn sau đẻ, áp xe vú.

1.3. Không áp dụng 

1.3.1 Chườm nóng:

- Viêm ruột thừa

- Viêm phúc mạc

- Nhiễm độc nặng

- Các bệnh nhiễm khuẩn gây mủ nặng

- Các trường hợp xuất huyết

- 24 giờ đầu sau khi chấn thương vì dễ gây chảy máu trở lại do giãn mạch

- Những bệnh nhân bị mất cảm giác.

- Đau bụng không rõ nguyên nhân.

1.3.2 Chườm lạnh:

- Tuần hoàn cục bộ kém.

- Xuất huyết ở phổi.

- Thân nhiệt thấp.

- Bệnh nhân táo bón

- Người già yếu

2. SO SáNH TáC DụNG CHườM NóNG Và CHƯờM LạNH. 

2.1 Chườm nóng.

- Làm cho bệnh nhân ấm

- Làm giảm sự co của gân, cơ, dây chằng, giảm sự cứng khớp, giảm đau, tǎng cảm giác dễ chịu, sự thư giãn.

- Gây sung huyết cục bộ, làm tǎng tuần hoàn tại chỗ giúp cho quá trình vết thương được nhanh hơn, làm giảm sự sung huyết ở sâu.

2.2. Chườm lạnh

- Làm giảm sự xuất huyết, phản ứng viêm, khu trú nhiễm khuẩn và giảm sự xung huyết do co mạch.

- Làm giảm đau do làm chậm sự dẫn truyền thần kinh, tạo ra tình trạng tê bì, chườm lạnh có tác dụng như thuốc giảm đau.

- Gây hạ nhiệt độ.

3. kỹ thuật chườm nóng, chườm lạnh 

3.1. Chườm nóng 

3.1.1 Chườm nóng khô

a) Chuẩn bị bệnh nhân

- Thông báo và giải thích cho bệnh nhân biệt về thủ thuật sắp làm.

- Hướng dẫn cho bệnh nhân những điều cần thiết.

b) Chuẩn bị dụng cụ

- Túi chườm: số lượng tùy theo tình trạng bệnh nhân, có thể thay túi chườm bằng chai nước nóng, nướng gạch nóng.

- Nước chườm đựng trong bình hoặc phích, nhiệt độ của nước tùy theo chỉ định, có thể thay đổi từ 50-60oC.

- Nhiệt kế để đo nhiệt độ của nước.

- Bao túi hoặc khǎn.

- Kim bǎng.

- Chất nhờn, thường dùng dầu Parafin.

- Nhiệt kế đo nhiệt độ cơ thể.

c) Tiến hành:

- Kiểm tra xem túi có bị thủng không.

- Kiểm tra nhiệt độ của nước, dùng nhiệt kế để đo nhiệt độ, điều chỉnh nhiệt độ theo đúng chỉ định.

- Đổ nước nóng vào túi: khoảng 1/2 - 2/3 dung tích túi

Lượng nước đổ vào túi tùy thuộc vào vị trí định chườm.

- Đuổi hết không khí trong túi chườm ra: đặt túi chườm trên mặt phẳng, ép túi chườm để cho nước dâng lên đến cổ túi chườm.

- Vặn chặt nắp và dốc ngược túi chườm để kiểm soát xem nắp túi có bị rò rỉ không. Nếu bị rò rỉ thì phải thay ngay.

- Lau khô và cho túi chườm vào bao hoặc dùng khǎn bọc túi chườm lại, không đặt túi chườm trực tiếp lên da bệnh nhân..

- Đem dụng cụ tới giường bệnh

- Đặt bệnh nhân nằm tư thế phù hợp.

- Đặt từ từ túi chườm lên vùng định chườm.

+ Để miệng túi quay lên trên.

+ Vị trí chườm: thường chườm ở trên bụng, 2 mạng sườn, 2 hố nách, trên vùng đau.

+ Hỏi bệnh nhân xem có nóng quá không: Nếu nóng quá có thể cho thêm nước lạnh vào túi chườm hoặc lót thêm vải quanh túi chườm...

- Cố định túi chườm vào vùng chườm.

- Thay nước khi cần: thường khoảng 20-40 phút thay nước một lần.

- Lấy túi chườm ra, quan sát vùng chườm, nếu bệnh nhân kêu nóng rát, da vùng chườm đỏ rực.

d) Thu dọn và bảo quản dụng cụ:

- Đưa dụng cụ đã sử dụng về phòng cọ rửa để xử lý theo quy định, không phơi dụng cụ cao su ngoài nắng.

- Trả các dụng cụ khác về chỗ cũ.

e) Ghi hồ sơ:

- Ngày giờ chườm.

- Nơi chườm, nhiệt độ của nước chườm.

- Thời gian chườm

- Kết quả chườm, tình trạng bệnh nhân trong và sau khi chườm.

- Tên người làm thủ thuật.

g) Những điểm cần lưu ý:

- Phải đo nhiệt độ của nước chườm theo đúng chỉ định.

- Thường xuyên theo dõi da bệnh nhân vùng chườm, nhất là những người già, trẻ em suy dinh dưỡng, thiếu máu, bệnh nhân rối loạn cảm giác.

- Không cho bệnh nhân đè lên túi chườm.

- Không nên chườm quá lâu. Thông thường mỗi lần chườm từ 20 - 40 phút. Nếu cần thì 2-3 giờ sau cho chườm lại vì chườm lâu làm cho da mềm, các lỗ chân lông giãn ra vi khuẩn dễ xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm khuẩn da, cơ.

3.1. Chườm nóng ướt:

Chườm nóng ướt cũng gồm nhiều phương pháp. Phương pháp phổ biến nhất là dùng khǎn hoặc gạc tẩm nước nóng vừa phải rồi đắp lên vùng định

chườm. Chườm nóng ướt được áp dụng trong các trường hợp sau:

- Vết thương hở.

- U nhọt.

- Trong trường hợp nhiễm khuẩn nhẹ như khi đau mắt.

a) Chuẩn bị bệnh nhân:

Như phần chườm nóng khô.

b) Chuẩn bị dụng cụ:

Bình hoặc phích đựng nước hay dung dịch.

Dung dịch chườm có thể tùy theo chỉ định. Thường dùng nước thường, có khi dùng cồn Boric 2%, dung dịch NaCl 0,9%, rượu quế, rượu hồi...

Nếu chườm lên vết thương hở thì dung dịch chườm phải đảm bảo vô khuẩn.

Nhiệt độ của dung dịch chườm 40-50oC.

- Nhiệt kế để đo nhiệt độ của nước chườm.

- Gạc miếng hoặc khǎn bông.

Kích thước của gạc hay khǎn tùy thuộc vào diện tích vùng chườm.

Nếu đắp lên vết thương hở thì phải chuẩn bị gạc vô khuẩn.

- 2 kẹp hoặc kìm Kocher

- Tấm nylon hoặc vải dày

Phủ ngoài gạc hoặc khǎn để giữ sức nóng được lâu.

- Dầu nhờn: Parafin

c) Tiến hành:

- Pha nước, kiểm tra nhiệt độ của nước chườm.

Nếu không có phích nước nóng thì phải đun dung dịch hay nước nguội cho tới khi thấy bốc hơi. (Nhiệt độ của dung dịch hoặc nước lúc này ở khoảng 40-50oC).

Đun cách thủy nếu chườm nóng ướt lên vết thương hở.

- Đem dụng cụ đến bên giường bệnh.

- Cho bệnh nhân nằm tư thế thích hợp.

- Nhúng gạc hoặc khǎn vào dung dịch.

- Vắt cho ráo bằng kìm Kocher.

Khi chườm nóng ướt lên vết thương hở phải đảm bảo kỹ thuật vô khuẩn.

- Mở rộng khǎn ra, từ từ đắp lên vùng chườm.

- Phủ tấm nylon hoặc vải dày lên trên lớp gạc hoặc khǎn chườm.

- Thay gạc hoặc khǎn chườm khi hết nóng (trung bình 10 phút thay 1 lần)

- Lấy gạc hoặc khǎn ra khi không chườm nữa.

Không nên chườm quá lâu. Thời gian mỗi lần chườm từ 20-40 phút. Sau đó cho bệnh nhân nghỉ một vài giờ rồi lại chườm tiếp nếu cần.

- Lau khô da bệnh nhân, xoa dầu nhờn.

Xoa dầu nhờn khi bệnh nhân kêu nóng rát.

Không xoa đầu lên mặt vết thương.

- Cho bệnh nhân nằm lại tư thế thoải mái.

- Trường hợp chườm ở mặt: Dùng gạc vuông 5x5 cm.

Nếu có một mắt đau thì phải che mắt lành lại. Cho bệnh nhân nằm nghiêng về bên mắt đau để tránh gạc đè lên mắt đau.

d) Thu dọn và bảo quản dụng cụ:

- Đưa toàn bộ dụng cụ đã sử dụng về phòng cọ rửa để xử lý theo quy định.

- Trả các dụng cụ khác về chỗ cũ.

e) Ghi hồ sơ:

Như phần chườm nóng khô.

3.2.1 Chuẩn bị bệnh nhân:

Như chuẩn bị bệnh nhân để chườm nóng.

3.2.2 Chuẩn bị dụng cụ:

Túi chườm: Số lượng tùy thuộc vào tình trạng bệnh nhân.

- Vồ đập đá (nếu cần).

- Chậu đựng đá đập nhỏ.

Đá dập nhỏ vừa phải, ngâm đá vào chậu nước một lát để đá bớt sắc cạnh tránh làm thủng túi chườm.

- Bao túi hoặc khǎn.

- Bǎng vải, kim bǎng.

- Bột talc.

3.2.3 Tiến hành:

- Kiểm tra xem túi có bị thủng không.

- Cho đá vào túi chườm khoảng 1/2 - 2/3 túi.

Số lượng đá cho vào tùy thuộc vào nơi chườm.

- Đuổi không khí ra khỏi túi chườm, đặt túi trên một mặt phẳng.

- Vặn chặt nắp túi chườm rồi dốc ngược túi chườm (để kiểm tra xem nắp túi có khít không, có rò rỉ không).

- Lau khô và cho túi vào bao hoặc dùng khǎn bọc lại.

- Đưa dụng cụ đến giường bệnh.

- Cho bệnh nhân nằm tư thế thuận tiện.

- Đặt từ từ túi chườm lên vùng định chườm (đặt từ từ để tránh gây cảm giác lạnh đột ngột cho bệnh nhân).

Vị trí chườm: thường chườm ở hai bên cổ, nách, bẹn hoặc trên vùng đau.

- Cố định túi chườm: có thể treo túi chườm nếu có thể được hoặc dùng gối chèn để giữ túi chườm ở đúng vị trí.

- Thỉnh thoảng kiểm tra toàn trạng bệnh nhân tại chỗ chườm và túi chườm, nếu bệnh nhân rét, khó chịu, thân nhiệt hạ thì thôi không chườm nữa, phải luôn giữ da vùng chườm khô ráo.

- Đổ bớt nước trong túi ra và cho thêm đá vào để duy trì nhiệt độ chườm nếu cần thiết, thường sau khoảng 2-3 giờ thay đá trong túi một lần.

- Lấy túi chườm ra khi không chườm nữa: thời gian chườm có thể ngắn hoặc kéo dài tùy thuộc vào tình trạng bệnh nhân và chỉ định.

- Lau khô da vùng chườm, rồi xoa bột talc (để tuần hoàn tại chỗ lưu thông trở lại).

- Cho bệnh nhân nằm lại tư thế thoải mái.

3.2.4 Thu dọn dụng cụ:

- Đưa dụng cụ về phòng cọ rửa để xử lý theo quy định.

- Trả các dụng cụ khác về chỗ cũ.

3.2.5 Ghi hồ sơ

- Ngày giờ chườm

- Nơi chườm.

- Thời gian chườm.

- Kết quả chườm, tình trạng bệnh nhân trong và sau khi chườm.

3.2.6 Những điềm cần lưu ý:

- Trường hợp cần làm hạ thân nhiệt thì phải dùng nhiều túi chườm. Đặt túi chườm ở những vùng da mỏng, nơi có nhiều mạch máu lớn chạy qua.

- Không đặt túi chườm kéo dài, thỉnh thoảng phải ngừng chườm một vài giờ sau đó chườm lại.

- Ngừng chườm ngay khi theo dõi thấy da bệnh nhân tím tái, bệnh nhân kêu tê, mất cảm giác vùng chườm, thân nhiệt giảm xuống dưới mức bình thường.

3.3 Tắm hạ nhiệt độ:

Tắm hạ nhiệt độ là phương pháp dùng khǎn thấm nước lạnh hoặc nước có pha cồn để đắp và lau lên các phần của cơ thể nhàm để hạ nhiệt độ, làm giảm sự kích động, làm êm dịu thần kinh. Thủ thuật thường được áp dụng cho trẻ em.

Trường hợp áp dụng:

- Các trường hợp bệnh nhân sốt cao (thân nhiệt trên 39oC, co giật mê sảng).

Không áp dụng cho những trường hợp sau:

- Trẻ sơ sinh, người già yếu.

- Nhiễm khuẩn trên da.

3.3.1 Chuẩn bị bệnh nhân:

- Thông báo và giải thích về thủ thuật sắp làm cho bệnh nhân biết.

- Hướng dẫn bệnh nhân những điều cần biết nếu bệnh nhân là trẻ nhỏ, bệnh nhân không tiếp xúc được, cần giải thích cho người nhà bệnh nhân biết.

3.3.2 Chuẩn bị dụng cụ:

- Chậu đựng nước tắm, nước tắm có nhiệt độ từ 15 - 30oC hoặc nước có pha cồn 50% theo tỷ lệ 1/2 nước + 1/2 cồn, nhiệt độ của nước tùy theo tuổi và tình trạng bệnh nhân.

- Nhiệt kế để đo nhiệt' độ của nước.

- 4 Khǎn vuông nhỏ.

- 2 Khǎn tắm lớn

- 1 Túi nước nóng có khǎn bọc.

- Nhiệt kế y học.

- Huyết áp kế, ống nghe.

- Một túi nước đá có khǎn bọc.

- Lọ cồn 70o

- Một tấm nylon + vải trải.

- Quần áo sạch.

- Bình phong che.

3.3.3 Tiến hành:

Đem dụng cụ đến nơi làm thủ thuật, nơi làm thủ thuật phải thoáng, tránh gió lùa.

- Lấy mạch, nhiệt độ, đo huyết áp, đếm nhịp thở. Trong suốt thời gian tiến hành thủ thuật phải luôn lưu ý đến mạch, và nhịp thở của bệnh nhân.

- Kéo bình phong che bệnh nhân (nếu làm thủ thuật tại buồng bệnh).

- Trải nylon và trải giường dưới lưng bệnh nhân.

- Cởi quần áo bệnh nhân, dùng vải phủ bệnh nhân.

- Cho bệnh nhân nằm ngửa, chườm túi nước đá lên đầu và túi nước nóng dưới chân để tránh sự sung huyết ở đầu và tránh cảm giác lạnh ở chân. (Không để túi nước đá đè lên đầu bệnh nhân).

- Đo nhiệt độ của nước, điều chỉnh nhiệt độ của nước nếu nước quá nóng,

lạnh quá.

- Nhúng khǎn bông lớn vào nước, vắt hơi ráo đắp hai bẹn và đùi (không đắp khǎn lên bụng tránh gây rối loạn tiêu hóa).

- Nhúng khǎn vuông nhỏ vào nước vắt hơi ráo đắp vào hai bên nách.

- Lau mặt và cổ.

- Lau ngực.

- Lau hai tay. Mỗi tay lau trong 2-3 phút sau dó lau hai chân. Mỗi chân cũng lau trong 2-3 phút (khi lau chân tay, phải lau dọc các mạch máu lớn. Thay khǎn đắp và khǎn lau thường xuyên).

- Thỉnh thoảng đếm mạch và nhịp thở. (Nếu bệnh nhân rét run, mạch nhanh, nhịp thở có những phản ứng bất thường thì phải ngừng lại báo cáo ngay cho bác sĩ biết).

- Lấy khǎn ở bẹn và nách lau khô rồi xoa cồn.

- Cho bệnh nhân nằm nghiêng về một bên.

- Lau lưng bệnh nhân sau đó lau mặt sau của đùi và hai cẳng chân, lau khô rồi xoa cồn. Lau lưng trong khoảng 7 phút, lau mặt sau mỗi chân trong khoảng 2-3 phút.

- Bỏ túi nước nóng và túi nước đá.

- Lau khô da bệnh nhân, mặc quần áo sạch cho bệnh nhân.

- Bỏ vải trải và vải nylon, sửa lại giường cho bệnh nhân nằm lại tư thế thoải mái.

- Quan sát bệnh nhân trước khi rời phòng bệnh. Lấy mạch, nhiệt độ, nhịp thở và huyết áp sau khi thực hiện thủ thuật 30 phút.

3.3.4 Thu dọn và bảo quản dụng cụ:

- Đưa toàn bộ dụng cụ về phòng cọ rửa để xử lý theo quy định.

- Trả những dụng cụ khác về chỗ cũ.

3.3.5 Ghi hồ sơ:

- Ngày giờ làm thủ thuật.

- Thời gian làm thu thuật.

- Loại đung dịch sử dụng, nhiệt độ dung dịch. Kết quả và tình trạng bệnh nhân, những phản ứng của bệnh nhân (nếu có).

Ghi lại: Mạch, nhiệt độ, nhịp thở, huyết áp trước và sau khi tắm.

3.3.6. Những điếm cần lưu ý:

- Luôn quan sát, theo dõi sát tình trạng chung của bệnh nhân. Ngừng ngay thủ thuật khi bệnh nhân có những phản ứng, biểu hiện bất thường.

- Không tắm quá lâu: trẻ em thường tắm trong vòng 15-20 phút. Người lớn tắm trong khoảng 30 phút.

- Không đắp khǎn ướt lên trên bụng và ngực.



 

ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN


Bài 4 

 

KỸ THUẬT BĂNG BÓ VẾT THƯƠNG

1. Mục đích :

Băng thường dùng trong cấp cứu và ngoại khoa nhằm mục đích:

1.1 Cầm máu: Băng ép trong vết thương phần mềm có chảy máu.

1.2. Bảo vệ, che chở vết thương tránh cọ xát va chạm.

1.3. Chống nhiễm khuẩn thứ phát, thấm hút dịch, máu mủ

1.4. Phối hợp với nẹp để cố định xương gãy tạm thời

2. NGUY? TắC.

2.1. Sát khuẩn vết thương sạch sẽ

2.2. VÔ KHUẨN triệt để vật liệu, tay cấp cứu viên, dụng cụ

2.3. Thấm hút dịch trong 24 giờ, che kín vết thương ngăn ngừa nhiễm khuẩn.

2.4. Cuộn băng lăn sát cơ thể từ trái sang phải không để rơi băng.

2.5. Băng từ dưới lên trên để hở các đầu chi cho tiện theo dõi

2.6. Băng vừa chặt, vòng sau đè lên 1/2 - 2/3 vòng trước.

2.7. Băng nhẹ nhàng, nhanh chóng, không làm đau đớn tổn thương thêm các tổ chức

2.8. Nút buộc băng tránh đè lên vết thương, đầu xương, mặt trong chân tay, chỗ bị tì đè, chỗ dễ cọ xát.

2.9. Tháo băng cũ, 2 tay 2 kìm chuyển nhau hoặc có thể dùng KÉO CẤT DỌC BĂNG ÐỂ THÁO BỎ NHANH.

3. CáC LOạI BĂNG. 

3.1. Băng cuộn.

Băng cuộn là loại băng thường dùng để giữ vật liệu băng tại chỗ thường áp dụng băng ép để chặn đứng sự chảy máu, hạn chế cử động, cố định trong trường hợp gãy xương.

- Băng cuộn được làm bằng vải, vải thô, vải thưa, len hay vải thun.

- Băng thun là loại băng tốt nhất dùng để băng nén ép cầm máu, giữ vật liệu băng đó tại chỗ không bị xê dịch nhờ tính chất co giãn của nó.

- Băng cuộn có nhiều loại và nhiều cỡ, tùy theo vị trí tổn thương của cơ thể mà dùng các loại băng thích hợp.

+ Băng gạc mịn: Thích hợp với cơ thể trẻ em

+ Băng vải: Dùng để băng ép cố định và nâng đỡ

+ Băng thun: Là loại tốt nhất để băng ép

+ Băng Esmarch: Bằng cao su dùng trong phòng mổ khi phẫu thuật cắt đoạn chi.

Một cuộn băng gồm có 3 phần:

+ Ðuôi băng: là phần chưa cuộn lại

+ Ðầu băng: là phần lõi

+ Thân băng: phần đã cuộn chặt

Hình 141. Một cuộn băng.

- Kích thước trung bình của cuộn băng dùng cho người lớn

+ Băng ngón tay: 2,5cm x 2m

+ Băng cẳng tay, bàn tay: 5cm x 3m

+ Băng cánh tay: 5-6cm x 6m

+ Chân: 7-8cm x 7m

+ Thân người: 10-15cm x 10m

3.2. Băng dính: Dùng trong các trường hợp thuận tiện nhưng không có tác dụng ép chặt.

3.3. Băng tam giác: Loại băng này đơn giản và nhanh chóng hơn băng cuộn, rất thích hợp cho các trường hợp cấp cứu.

Thường dùng để nâng đỡ che chở chi trên hay giữ yên vật liệu băng bó ở

ÐẦU Ở TAY VÀ Ở CHÂN.

3.3.1. Giới thiệu về băng tam giác.

a) Các phần của một băng tam giác. Hình 143.

b) Cách gấp băng tam giác để dự phòng

1. Gấp đôi, gấp 4 để băng tam giác nhỏ lại

2. Xếp 2 đấu mút băng vào giữa

3. Tiếp tục xếp 2 đầu vào giữa cho đến khi hoàn tất

c) Cách gấp băng tam giác (khi cần để làm băng cột)

* Băng gấp lớn dùng để bất động chi khi di chuyển hay cố định gãy xương.

* Băng gấp nhỏ dùng để cố định khớp như cổ chân, cổ tay không có băng cuộn.

d) Cách buộc nút an toàn (khi dùng băng tam giác)

Khi kết thúc băng tam giác phải buộc nút an toàn. Có NHIỀU LOẠI NÚT: NÚT QUAI CHÈO, NÚT NỘI trợ và nút dẹt.

e) Cách làm nút dẹt.

(1)- Mỗi tay nắm giữ một đầu mút của băng tam giác. Ðưa đầu mút trái lên trên đầu mút phải rồi luồn xuống dưới.

(2)- Ðầu mút phải đưa lên trên đầu mút trái rồi luồn xuống dưới.

(3)- Kéo 2 đầu mút băng tam giác băng tam giác thắt lại tạo thành mút an toàn.

3.4. Băng dải: băng dải gồm có băng chữ T hoặc băng NHIỀU DẢI.

4. các kiểu băng cơ bản 

4.1. Băng vòng khóa

Ðể bắt đầu các kiểu băng bằng 2 vòng đầu tiên.

4.2. Băng xoáy ốc

- Khởi đầu bằng băng vòng khóa.

- Lăn tròn cuộn băng trên bộ phận cần băng từ trái sang phải.

- Ðường sau chếch lên trên và song song với những đường băng trước. Ðường sau chồng lên đường trước 1/2 hoặc 1/3 bề rộng cuộn băng.

- Kết thúc với 2 vòng tròn và cố định.

Dùng để băng những chỗ đều nhau và dài trên cơ thể như cánh tay, ngón tay, nửa người trên.

4.3. Băng chữ nhân

- Giống như băng xoáy ốc nhưng mỗi vòng đều gấp lại.

- Bắt đầu mối băng bằng 2 vòng tròn quanh phần cơ thể cần băng bó.

- Quấn 1 vòng xoáy.

- Ngón cái tay trái đè lên chỗ định gấp giữ chặt vòng băng.

- Nới dài cuộn băng khoảng 15cm.

- Tay phải lật băng kéo xuống dưới và gấp lại.

- - Sau đó quấn chặt chỗ băng, kết thúc với 2 vòng tròn và cố định.

- Ðể ý các phần lật đều nhau và khoảng cách đều nhau, không để chỗ gấp trên vết thương hay trên chỗ xương lồi. Thường áp dụng băng những chỗ thon không đều như cẳng tay, cẳng chân.

4.4. Băng số 8

- Bắt đầu bằng băng vòng khóa

- Các đường băng sau băng chéo và lần lượt thay đổi hướng lên và xuống mỗi lần cuốn vòng băng.

- Vòng sau chồng lên vòng trước 1/2 hoặc 2/3 làm thành hình số 8

- Kết thúc bằng 2 vòng băng cố định.

4.4.1. Băng nách kiểu số 8

4.4.2. Băng gáy

- Ðiều dưỡng viên đứng sau bệnh nhân

- Bắt đầu băng 2 vòng tròn quanh đầu

- Hướng đường băng xuống gáy

- Quấn 1/2 vòng tròn quanh cổ, không xiết chặt

- Hướng đường băng đi lên bắt chéo với vòng trước

- 1/2 vòng tròn quanh đầu và tiếp tục cho đến khi kín gáy

- Kết thúc 2 vòng quanh đầu và cố định

4.4.3. Băng tai

- Băng phần bên của mặt

- Không bó chặt hàm

- Không làm nghẹt thở

- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn quanh đầu

- Hướng đường băng qua trước tai trái và đi lên thẳng cho tới trên đầu

- Ðưa băng đi xuống sau tai phải và qua dưới cằm để trở lên đỉnh đầu

- Tiếp tục như trên cho kín nơi cần băng

- Kết thúc bằng một đường băng chéo sau ót và một vòng tròn quanh đầu và cố định

4.4.4. Băng vai

- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn quanh cánh tay

- Vòng đường băng qua nách

- Hướng đường băng ra sau lưng xuống dưới nách bên kia và trở lại như đã bắt đầu. Băng kín vai.

- Kết thúc và cố định trước ngực.

4.4.5. Băng 1 vú (vú trái)

- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn dưới vú

- Ðưa đường băng ra sau lưng đi qua vai phải

- Hướng đường băng xuống hông trái qua hông phải

- Tiếp tục trở về hông trái, lên vai phải

- Các đường băng sau liên tục như trên cho đến khi băng kín vú

- Kết thúc 2 vòng tròn dưới vú và cố định.

4.4.6. Băng bẹn

- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn quanh đùi

- Kéo từ phía ngoài đùi chếch qua xương mu đến gai chậu bên kia

- Vòng qua lưng trở về chỗ cũ, qua bụng chếch xuống phía trong đùi, bắt chéo với vòng trước, đè lên vòng trước 1/2 - 2/3 vòng.

- Vòng qua phía sau đến phía ngoài đùi, chếch qua bụng, đến xương hông. Vòng qua lưng về phía trong đùi.

- Tiếp tục băng theo hình số 8 cho đên khi băng kín bông gạc mới thôi.

4.4.7. Băng đầu gối

- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn ngay đầu gối

- Tiếp tục 1 vòng tròn chồng lên vòng tròn đầu 1/2-2/3 ở trên

- Tiếp theo 1 vòng tròn chồng lên 1/2 vòng đầu ở dưới

- Băng kiểu số 8 (dẻ quạt) cho đến khi xong

4.5. Băng gấp lại (hồi quy)

- Bắt đầu bằng băng vòng khóa

- Sau đó lật từ trước ra sau và từ sau ra trước

- Lần thứ nhất băng ở giữa

- Các lần sau tỏa dần ra 2 bên kiểu dẻ quạt, mỗi lần đều trở về chỗ bắt đầu gấp cho đến khi băng kín

- Kết thúc bằng 2 vòng cố định

Thường áp dụng băng ở đầu, bàn tay không tách ngón, chi cắt cụt.

4.6.1. Băng treo

a) Băng treo rộng: đặt 1 góc băng lên vai bên tay lành, góc giữa ở chỗ khuỷu tay dưới nách tay đau, kéo góc ở dưới lên buộc nút ở cổ, để giữ cẳng tay ở trên băng treo, gấp góc 90o theo tư thế cơ năng của chi trên. Cuối cùng, gấp góc đầu thừa của góc đỉnh lại cho gọn, rồi cài kim băng.

b) Băng treo hẹp: gấp khăn tam giác thành dải hẹp (hay thay bằng băng cuộn) rồi treo cẳng tay lên như cánh tay.

4.6.2. Băng mặt

Trường hợp cả mặt bị bỏng hay bị thương, trước hết buộc nút ở góc giữa chụp lấy đầu và mặt, khoét lỗ con ở mắt ( 2 mắt) và chỗ mũi mồm rồi kéo 2 góc trái và phải ra sau gáy và vòng về đằng trước, buộc nút ở phía trước cổ.

4.6.3. Băng đầu

4.6.4. Băng bàn tay

- Băng kín bàn tay: đặt tay vào giữa khăn tam giác, ngón tay hướng lên góc đỉnh, gấp góc đỉnh lên sau bàn tay góc trái và góc phải bắt chéo ở mu bàn tay, rồi xuống đến cổ tay lại vòng lại lên mu bàn tay và buộc nút, gấp góc đỉnh lên che lấy chỗ buộc nút.

- Băng lòng bàn tay: gấp khăn tam gác, góc thành dải, từ lòng bàn tay, vòng đến mu bàn tay bắt chéo rồi kếo về phía cổ tay rồi buộc nút ở phía mu tay.

4.6.5. Băng bàn tay nắm

Trường hợp bàn tay chảy máu, cho người bệnh nắm một cuộn băng gạc, rồi gấp khăn tam giác thành dải băng quanh nắm tay, rồi buộc nắm tay.

4.6.6. Băng khuỷu tay

Gấp phía dưới góc khăn tam giác (rộng độ 5cm) góc đỉnh quay lên trên vai, góc trai và phải vòng qua cánh tay dưới bắt chéo phía trên khuỷu tay, rồi vòng lên cánh tay trên và buộc nút, gấp góc đỉnh xuống.

4.6.7. Băng vai

Góc giữa khăn tam giác quay lên trên, che kín lấy vai, phía dưới khăn gấp lại rộng 2 ngón tay, băng 1 vòng ở giữa cánh tay và buộc nút, còn góc đỉnh thì cố định bằng 2 cách:

+ Cách 1: lấy 1 khăn tam giác khác để gấp thành dải vòng chéo ở cổ bên đau và nách bên lành, rồi buộc nút giữ lấy góc giữa rồi gấp và ghim lại.

+ Cách 2: dùng băng treo hẹp, đè lên góc giữa rồi gấp lại và ghim đồng thời cố định cả cánh tay bị thương. 

4.6.8. Băng cả bàn chân (cũng như băng bàn tay)

4.6.9. Băng khớp gối

4.6.10. Băng bẹn

4.6.11. Băng ngực 

4.7. Băng dải

Băng dải gồm có băng chữ T hoặc băng nhiều dải.

4.7.1. Băng chữ T

Làm bằng vải rộng cỡ 8cm.

Dải dọc dài từ 75-90cm.

Dải ngang dài từ 90-120cm.

- Băng chữ T 1 dải dọc dùng để băng tầng sinh môn hay bộ phận sinh dục nữ.

- Băng chữ T 2 dải dọc (15cm xẻ đôi) dùng để băng nâng đỡ tinh hoàn.

4.7.2. Băng nhiều dải

Gồm có 4 hoặc 5 dải xếp chồng lên nhau 1/2 khổ.

- Bề rộng mỗi dải 10-15cm.

- Bề dài từ 90-120cm.

- Ở GIỮA MAY một miếng vải dài khoảng 25cm làm thân băng.

Băng nhiều dải để băng ở ngực hoặc bụng.

- Băng ngực có thêm 2 dải nhỏ kéo qua vai đến trước ngực để giữ băng.

- Băng bụng có thêm 1 dải nhỏ ở dưới để giữ băng.

Chú ý:

+ Băng bụng băng từ dưới đi lên.

+ Băng mổ lấy con, băng từ trên đi xuống để giúp tử cung trở lại vị trí cũ.

+ Ghim kim cố định ở ngực hay ở bụng, phải ghim ngang theo nếp gấp của da.

5. cách cố định băng trước khi kết thúc

- Cố định bằng ghim kim an toàn.

- Cố định bằng móc sắt.

- Cố định bằng keo.

- Băng vải cố định bằng cách buộc nút, cắt đôi bề rộng băng, bề dài khoảng 15cm. Thắt chéo lại rồi vòng qua chi và buộc nút an toàn.

 


 

ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN


 

 

Bài 5: KỸ THUẬT THAY BĂNG CẮT CHỈ

1. Đại cương vết thương .

Chăm sóc bệnh nhân có vết thương, vết mổ phải băng bó cần thực hiện đúng kỹ thuật vô khuẩn, để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

2. Nguyên tắc thay băng .

2.1. Sát khuẩn vết thương sạch sẽ

2.2. Vô khuẩn triệt để dụng cụ, vật liệu và tay thủ thuật viên.

2.3. Ðủ bông gạc thấm hút dịch trong 24 giờ.

2.4. Nhẹ nhàng nhanh chóng, không làm tổn thương thêm các tổ chức, rút ngắn thời gian đau đớn cho bệnh nhân.

2.5. Che kín vết thương ngăn ngừa nhiễm khuẩn. 

3. Kỹ THUậT THAY BĂNG. 

3.1. Vết thương. 

3.1.1. Chuẩn bị:

a) Ðịa điểm: Nếu có điều kiện thì nên có phòng thay băng vô khuẩn, hữu khuẩn, thoáng, sạch có đủ ánh sáng, kín đáo, có bàn ghế để thay băng.

b) Bệnh nhân:

- Làm công tác tư tưởng động viên bệnh nhân.

- Tốt nhất là đưa bệnh nhân lên phòng thay băng, cho bệnh nhân nằm ngồi thoải mái tiện cho việc thay băng, bộc lộ vùng cần băng.

c) Dụng cụ, thuốc men:

* Dụng cụ: Trước khi chuẩn bị dụng cụ người cán bộ y học đeo khẩu trang và rửa tay:

- Chuẩn bị một khay vô khuẩn trong đó gồm có:

+ 1 kéo cắt chỉ

+ 3 kẹp (phẫu tích, peang, Kocher)

+ Cốc nhỏ

+ Bông cầu, bông miếng, gạc, số lượng tùy tình trạng vết thương

+ Que thăm dò

- Dụng cụ khác

+ Kéo cắt băng

+ Lọ cắm 2 kìm

+ Băng dính hoặc băng vải

+ Tấm nylon nhỏ

+ Túi giấy hoặc khay quả đậu đựng băng bẩn

* Thuốc và dung dịch sát khuẩn các loại

- Tùy hoàn cảnh, điều kiện của bệnh viện

- Các dung dịch sát khuẩn thường dùng

+ Cồn iod 1%

+ Dung dịch oxy già

+ Dung dịch NaCl 0,9%.

+ Dung dịch Zephiran 0,1%

+ Dung dịch Betadin

- Các loại thuốc dùng tại chỗ:

+ Thuốc bột: sulfamid, kháng sinh tổng hợp

+ Thuốc mỡ: oxyt kẽm, mỡ kháng sinh

3.1.2. Tiến hành

a) Thay băng một vết thương vô khuẩn thông thường:

- Ðem dụng cụ đến bên giường bệnh nhân

- Giải thích cho bệnh nhân biết việc sắp làm

- ĐỂ BỆNH NHÂN Ở tư thế thuận tiện cho việc thay băng

- Che bình phong (nếu cần)

- Lót giấy báo hoặc mảnh nylon nhỏ phía dưới vết thương giữ cho giường không bị bẩn.

- ĐẶT TÚI GIẤY HOẶC KHAY QUẢ ÐẬU Ở chỗ thuận tiện để đựng băng bẩn.

- Tháo bỏ băng bẩn vào túi giấy, chỉ cầm vào phần sạch của băng, nếu bấn quá phải dùng kìm.

- Nếu là băng cuộn: Tháo ngược chiều băng hoặc cắt bỏ ở cạnh gạc hay dùng kìm nâng lên rồi cắt.

- Nếu là băng dính: Bóc bỏ các chân băng nếu có điều kiện dùng ete nhỏ vào các chân băng.

- Nếu là khăn tarn giác và băng có dải: tháo hoặc cắt băng.

- Tháo bỏ băng gạc:

+ Vết thương dính: tưới dung dịch NaCl đẳng trương lên gạc và vết thương.

+ Vết thương khô: tháo dọc theo vết mổ

- Quan sát và đánh giá tình trạng vết thương

- Rửa tay

- Dùng một kìm vô khuẩn gắp bông nhúng vào dung dịch sát khuẩn, chuyển bông sang kìm thứ hai, rửa vết thương từ trong ra ngoài. Rửa trong

vết thương trước, sau đó rửa xung quanh. Nếu muốn rửa lại dùng rniếng bông khác đến khí sạch.

- Rửa rộng xung quanh vết thương và các vùng lân cận.

- Dùng gạc thấm khô vết thương bằng dung dịch muối đẳng trương vắt khô.

- Dùng bông lau khô xung quanh vết thương.

- Ðắp thuốc vào vết thương theo chỉ định điều trị.

- Ðắp gạc phủ kín vết thương.

- Dùng băng dính hoặc băng vải băng lại.

- Ðặt bệnh nhân nằm lại thoải mái.

- Thu dọn dụng cụ

- Ghi hồ sơ:

+ Ngày giờ thay băng

+ Tình trạng vết thương

+ Dung dịch sát khuẩn đã dùng

+ CÓ CẮT chỉ hay mở kẹp?

+ Tên người thay băng.

b) Thay băng vết thương nhiễm khuẩn:

Từ bước 1-9 giống như thay băng vết thương vô khuẩn thông thường.

- Rửa xung quanh vết thương trước

- Nặn hết mủ trong vết thương ra.

- Rửa trực tiếp vào vết thương.

- Vết thương có nhiều ngõ ngách: Dùng bơm tiêm bơm dung dịch muối đẳng trương rửa nhiều lần sau đó rửa bằng nước oxy già, cuối cùng rửa lại bằng dung dịch NaCl 0,9%.

- Nếu có tổ chức chết phải lấy hết.

- Thấm khô vết thương rồi cho thuốc điều trị vết thương theo chỉ định của thầy thuốc. 

3.2 Cắt chỉ vết thương. 

3.2.1. Vết thương khô:

Sau 7 ngày cắt chỉ: trước hết sát khuẩn xung quanh vết thương, sau sát khuẩn từng sợi chân chỉ, dùng kìm Kocher kẹp đầu chỉ bên cao và cắt sát về một phía rút ra rồi sát khuẩn lại.

3.2.2. Vết thương nhiễm khuẩn:

Có triệu chứng sưng, nóng, đỏ, đau thì phải cắt chỉ sớm vào ngày thứ 2 hoặc 3, cắt một mũi bỏ một mũi để dịch và máu trong vết thương thoát ra ngoài làm giảm và hạn chế viêm nhiễm ở BÊN TRONG, ÐẾN NGÀY THỨ 7 CẮT NỐT CHỈ còn lại.

* Những điểm cần chú ý

- ÁP DỤNG kỹ thuật vô khuẩn hoàn toàn trong khi băng, rửa vết thương.

- Phải thay băng những vết thương sạch trước khi thay băng những vết thương khác.



 

Mục lục

YKHOANET - Website Y Khoa Việt Nam

 

Bài 13,14: Kỹ thuật truyền dịch - Truyền máu

1. Truyền dịch

1.1 Mục đích.

Tiêm truyền dung dịch là đưa vào cơ thể người bệnh qua đường tĩnh mạch hoặc dưới da một khối lượng dung dịch và thuốc với mục đích:

- Hồi phục lại khối lượng tuần hoàn khi bệnh nhân bị mất nước, mất máu (xuất huyết, bỏng và tiêu chảy mất nước...)

- Giải độc, lợi tiểu

- Nuôi dưỡng người bệnh (khi bệnh nhân không ǎn uống được)

- Đưa thuốc vào để điều trị bệnh

1.2 Các loại dịch truyền.

Đường, muối bicarbonat 1,4%, điện giải, vitamin, acid amin, máu tươi và các thành phần của máu. Và chia theo:

* Loại chất: Dung dịch điện giải

- Dinh dưỡng (glucose, acid amin...)

- Dung dịch kiềm hóa và acid hóa

- Máu và các phế phẩm của máu

- Các chế phẩm thay thế máu: Dextran...

* Dung dịch ưu trương: glucose 20%, 30%, 50%, NaCl 10%, 20%

* Dung dịch đẳng trương: Glucose 5%, NaCl 0,9%, NaHCO3 1,4%

1.3 Các vị trí tiêm truyền tính mạch 

1.3.1. Các vị trí thông thường:

- Các tính mạch ở mu bàn tay (H.100)

- Các tính mạch ở cẳng tay, cánh tay, khuỷu tay (H.101)

- Các tính mạch ở chân (H.103)

- Các tính mạch ở đầu (với trẻ nhỏ): tĩnh mạch trán, thái dương, tĩnh mạch mang tai (H.102)

Hình 100-103/186-187

1.3.2. Các vị trí khác

Tĩnh mạch trung tâm để đặt ống thông nuôi dưỡng bệnh nhân dài ngày, nhằm đo áp lực tĩnh mạch trung tâm trong cấp cứu (thường do bác sĩ thực hiện).

1.4 Nguyên tắc.

- Dịch truyền và các dụng cụ phải tuyệt đối vô khuẩn.

- Khi tiến hành kỹ thuật phải đúng quy cách và bảo đảm vô khuẩn đến khi kết thúc xong.

- Tuyệt đối không để không khí vào tĩnh mạch.

- Đảm bảo áp lực của dịch truyền cao hơn áp lực máu của bệnh nhân.

- Tốc độ chảy của dịch phải theo đúng y lệnh (duy trì tổng lượng đưa vào đúng thời gian quy định).

- Theo dõi chặt chẽ tình trạng bệnh nhân trước, trong và sau truyền.

- Phát hiện các dấu hiệu sớm của phản ứng và xử lý kịp thời.

- Không để lưu kim quá 24 giờ trong cùng một vị trí.

- Nơi tiếp xúc giữa kim và mặt da phải giữ vô khuẩn.

1.5 Trường hợp nên truyền và không nên truyền. 

1.5.1. Nên truyền

Xuất huyết và tiêu chảy mất nước, bỏng, trước mổ, sau mổ.

1.5.2. Không nên truyền

- Phù phổi cấp

- Bệnh tim nặng

- Tuỳ theo chỉ định điều trị

1.6 Quy trình kỹ thuật chuyển dịch 

1.6.1. Chuẩn bị dụng cụ:

a) Dụng cụ vô khuẩn.

- Chai dịch truyền theo chỉ định đã kiểm tra:

+ Số lượng

+ Chất lượng

+ Hạn dùng

- Thuốc (nếu có chỉ định)

- Khay men vô khuẩn: để đựng bơm, kim tiêm, gạc, bộ dây truyền.

- Kìm Kocher

- Bơm tiêm 5ml, 10ml vô khuẩn

- Kim tiêm đã vô khuẩn dài 3cm, đường kính 5/10 - 8/10mm hoặc catheter là một ống chất dẻo xuyên vào ven bệnh nhân thường được đóng gói riêng (kim cánh bướm nếu có).

- Gạc miếng đã hấp

- Bộ dây truyền có hệ thống không khí, 1 dây truyền gồm 1 kim 1 bầu nhỏ giọt (có loại 10, 15, 20 giọt/ml và được ghi ở nhãn của bộ dây), một khoá lǎn, một ống dây, một bao để đậy ngoài đốc kim.

- Bát kền (hoặc chén) để đựng bông có cồn iod (1%), dao cưa.

b) Các dụng cụ khác:

- Cọc truyền có bánh xe, có loại giường có cọc truyền gắn vào, độ cao phải được tính, quang treo.

- 2 khay quả đậu, túi giấy.

- Kéo, bǎng dính, bǎng cuộn.

- Bộ tứ gồm: Tấm nylon nhỏ, gối kê tay, dây cao su, nẹp gỗ có cuốn gạc ở ngoài hoặc nẹp bằng chất dẻo để cố định tay bệnh nhân.

- Phiếu truyền dịch

- Hộp thuốc chống sốc (cấp cứu).

- Máy đo huyết áp, ống nghe.

- Nhiệt kế.

- Đồng hồ đếm mạch, nhịp thở, bảng theo dõi dấu hiệu sinh tồn.

1.6.2. Chuẩn bị bệnh nhân:

Giải thích để bệnh nhân và người nhà biết công việc sắp làm và báo cho họ biết thời gian truyền bao lâu sẽ xong để họ yên tâm.

Cho bệnh nhân đi đại tiện, tiểu tiện trước khi truyền dịch.

Vệ sinh thân thể, chú ý vệ sinh vùng truyền (cạo lông nếu có).

Lấy các dấu hiệu sinh tồn trước khi truyền (mạch, huyết áp, nhịp thở, nhiệt độ...).

1.6.3. Tiến hành kỹ thuật:

- Cán bộ y học đeo khẩu trang

- Rửa tay bằng xà phòng, rửa dưới vòi nước.

- Kiểm tra lại dụng cụ và mang đến giường bệnh nhân

- Đặt cọc truyền cạnh giường ở vị trí thích hợp.

- Đặt xe đẩy (hoặc khay dụng cụ) sao cho phù hợp khi tiến hành kỹ thuật.

- Sát khuẩn tay cán bộ y học.

- Kiểm tra chai dịch lần 2 (tên dịch, chất lượng, số lượng, hạn dùng) và lắp vào quang treo.

- Sát khuẩn nút chai.

- Pha thuốc vào chai dịch (nếu có chỉ định).

- Cắm kim của bộ dây có hệ thống thông khí vào các nút chai và đuổi không khí ở trong bộ dây ra bằng cách:

Tay trái nâng nghiêng bầu, đồng thời tay phải mở kìm đã kẹp ở gần đầu ambu của bộ dây truyền. Khi dịch chảy 1/3 bầu, người cán bộ y học phải nhanh tay hạ thẳng bầu đếm giọt xuống để cho dịch chảy tiếp tục xuống đoạn dây dưới. Khi dịch chảy tới đầu ambu, cho dịch chảy ra bát kền khoảng 1-2 giọt (tránh không để chảy nhiều dịch), kẹp lại, đậy kim và giữ vô khuẩn.

- Đặt tấm nylon và gối nhỏ dưới vùng truyền.

- Chọn vị trí đưa kim vào tĩnh mạch và buộc dây cao su cách vị trí tiêm 3cm.

- Sát khuẩn vùng tiêm theo hình xoáy ốc từ trong ra (nếu bẩn sát khuẩn nhiều lần) (H.104).

Hình 104/190

- Sát khuẩn tay cán bộ y học viên lần 2.

- Tay thuận đưa kim vào tĩnh mạch, khi có máu chảy ra, tay kia tháo dây cao su mở khoá cho dịch chảy vào tĩnh mạch (H.105).

Hình 105/190

Nếu để nuôi dưỡng dài ngày hoặc trong cấp cứu các vị trí thông thường khó lấy, ta phải luồn catheter tĩnh mạch trung tâm (H.106).

Hình 106/191

- Khoá cho dịch chảy vừa phải.

- Lót miếng gạc đã hấp dưới đốc kim và gập 2 đầu gạc bọc đốc kim lại cố định bǎng dính vào da bệnh nhân.

- Rút tấm nylon, gối kê tay, dây cao su kê ở dưới tay hoặc chân bệnh nhân và đặt nẹp buộc cố định lại (H.107).

Hình 107/192

- Điều chỉnh giọt chảy theo chỉ định.

- Đặt bệnh nhân ở tư thế nằm thoải mái để tránh những khó chịu của người bệnh khi truyền.

- Ghi phiếu truyền để cạnh chai dịch để tiện theo dõi: Ghi họ tên, tuổi, số giường, tên thuốc, số giọt chảy, giờ bắt đầu truyền, người truyền.

- Theo dõi sát bệnh nhân cứ 15 phút cán bộ y học viên đến quan sát một lần để phát hiện tai biến trong suốt quá trình truyền.

- Khi gần hết chai dịch, còn khoảng 10-20 ml thì khoá lại, rút kim, dùng bông cồn ấn vào vùng tiêm (nếu truyền tiếp thì thay chai khác).

- Ghi chép tất cả tình trạng bệnh nhân từ lúc truyền đến khi thôi không truyền nữa và lượng dịch, thời gian đã truyền và trả phiếu tiêm truyền vào hồ sơ.

- Thu dọc dụng cụ (dây truyền, vỏ chai) rửa sạch, đưa đi tiệt khuẩn.

- Cách tính:

Ví dụ: Truyền 2000ml trong 8 giờ (480 phút) mà 20 giọt/1ml

1.7. Tai biến và cách xử trí. 

1.7.1. Dịch không chảy do:

- Kim bị lệch, lỗ kim áp vào thành mạch. Cần điều chỉnh lại kim và kê lại đốc kim.

- Do mạch kẹp, dùng bàn tay vuốt nhẹ theo đường về của tĩnh mạch để dồn máu.

- Do tắc kim: Tạm thời gập 1-2 khúc của đoạn dây truyền, rồi buông nhanh, dung dịch sẽ dồn mạnh xuống làm cho thông kim. Nếu không được phải thay kim.

1.7.2. Phồng nơi tiêm:

- Do thuốc thoát ra ngoài vì tiêm ra ngoài thành mạch hoặc mũi vát của kim chưa vào sâu trong lòng mạch (mũi vát nửa trong nửa ngoài). Phải tiêm lại hoặc tiêm chỗ khác. Nếu là dung dịch ưu trương thoát ra ngoài thì phải ngừng truyền ngay, báo cáo bác sĩ.

1.7.3. Nhiễm khuẩn nơi tiêm do không đảm bảo vô khuẩn.

1.7.4. Sốc:

- Triệu chứng: rét run, sắc mặt tái nhợt, vã mồ hôi, khó thở, mạch nhanh v.v...

- Xử trí: Ngừng truyền ngay, phải ủ ấm cho bệnh nhân, báo cáo bác sĩ (chuẩn bị thuốc xử trí). Tìm nguyên nhân gây sốc, do dung dịch không tinh khiết, do dây truyền bẩn, do tốc độ truyền nhanh...

1.7.5. Phù phổi cấp:

Thường xảy ra ở những bệnh nhân bị cao huyết áp, hoặc suy tim, nguyên nhân do truyền quá nhanh: khối lượng nhiều.

- Triệu chứng: Đau ngực, khó thở dữ dội, sắc mặt tím tái.

- Xử trí: Ngừng truyền ngay, báo cáo bác sĩ, chuẩn bị phương tiện xử trí.

1.7.6. Tắc mạch phổi do không khí trong dây truyền lọt vào mạch.

- Triệu chứng: Đau ngực đột ngột, khó thở, có thể gây tử vong nhanh.

- Xử trí: Ngừng truyền ngay, báo cáo bác sĩ, đồng thời xử trí, hô hấp nhân tạo, thở oxy...

2. truyền máu. 

2.1. Mục đích

Truyền máu là đưa vào cơ thể người bệnh qua đường tĩnh mạch một khối lượng máu, nhằm mục đích:

- Bù đắp lại số lượng máu đã mất, nâng cao huyết áp.

- Cầm máu vì máu truyền vào nó mang sẵn các yếu tố như fibrinogen, protrobin tiểu cầu, calo.

- Chống nhiễm khuẩn, nhiễm độc, vì nó cung cấp kháng thể và hemoglobin.

- Cung cấp oxy cho tế bào và kháng thể cho người bệnh, ki máu đưa vào hệ thống tuần hoàn sẽ vận chuyển các chất dinh dưỡng đến mô và đưa những sản phẩm thoát ra ở tế bào, mô, thân, phổi ra ngoài.

2.2. Trường hợp nên truyền và không nên truyền. 

2.2.1. Nên truyền:

Chảy máu nội tạng nặng:

- Sốc do chảy máu trong, sốc chấn thương đơn thuần, mất máu nặng do đứt động mạch.

- Thiếu máu nặng.

- Nhiễm khuẩn, mhiễm độc nặng.

- Các bệnh về máu.

2.2.2. Không nên truyền:

- Viêm cơ tim, các bệnh van tim.

- Sơ cứng động mạch não, huyết áp cao.

- Chấn thương sọ não, viêm não, não úng thuỷ...

2.3. Nguyên tắc truyền máu: 

2.3.1. Phải truyền cùng nhóm và chắc chắn có chỉ định của bác sĩ.

Nhóm A ----------> A

            B ---------- > B

            O ---------- > O

            AB ---------- > AB

2.3.2. Trước khi truyền máu phải chuẩn bị đầy đủ xét nghiệm cần thiết:

Nhóm máu, phản ứng chéo, kết dính...

2.3.3. Kiểm tra chất lượng (3 lớp rõ ràng, màu sắc, số lượng, nhóm máu, số hiệu chai máu và đảm bảo tuyệt đối vô khuẩn).

2.3.4. Kiểm tra dấu hiệu sinh tồn trước truyền, nếu bất thường báo lại cho bác sĩ.

2.3.5. Dụng cụ phải đảm bảo vô khuẩn (dây truyền máu phải có bầu lọc, kim phải đúng cỡ).

2.3.6. Đảm bảo tốc độ chảy của máu đúng thời gian theo y lệnh.

2.3.7. Phải làm phản ứng sinh vật

2.3.8. Khi chai máu đem về buồng bệnh không để quá 30 phút trước khi truyền cho bệnh nhân.

2.3.9. Phải theo dõi chặt chẽ quá trình truyền đề phồng các tai biến có thể xảy ra.

2.3.10. Trong trường hợp cấp cứu kông có máu cùng nhóm có thể truyền khác nhóm nhưng phải thận trọng(không quá 500 ml) theo nguyên tắc tối thiểu như sơ đồ sau:

Sơ đồ truyền máu:

Hình trang 195

2.4. Phân loại nhóm máu và sơ đồ truyền máu.

Phân loại nhóm máu, dựa trên phản ứng giữa kháng nguyên và kháng thể tác động lên kháng nguyên cung cấp sẽ xảy ra hiện tượng ngưng kết. Kháng nguyên nằm ở hồng cầu còn gọi là ngưng kết nguyên, Kháng thể ở huyết tương còn gọi là ngưng kết tố xếp thành:

- Ngưng kết nguyên A và ngưng kết tố b

- Ngưng kết nguyên B và ngưng kết tố a

Như vậy trong một người hoặc một nhóm máu không thể có ngưng kết nguyên và ngưng kết tố cùng cặp

Dựa vào công trình nghiên cứu đó ta chia máu của người ra làm 4 nhóm theo hệ thống A, B, O

- Nhóm A có ngưng kết nguyên A và ngưng kết tố b

- Nhóm B có ngưng kết nguyên B và ngưng kết tố a

- Nhóm O không có ngưng kết nguyên, chỉ có 2 ngưng kết tố a và b .

- Nhóm AB có ngưng kết nguyên A và B, không có ngưng kết tố. Ngoài những kháng nguyên kháng thể kể trên còn có yếu tố Rh. Nhiều công trình nghiên cứu gần đây thì Việt Nam Rh (+) chỉ có 85%.

Để đảm bảo an toàn trong truyền máu ta có nhiều biện pháp:

- Tốt nhất, an toàn nhất là truyền máu cùng nhóm

- Nếu không có máu cùng nhóm, ta sẽ truyền khác nhòm theo sơ đồ nhưng không quá 500ml.

Thí dụ: Nhóm máu O truyền cho nhóm AB và không nên sau khi dùng nhóm O truyền cho nhóm AB lại dùng nhóm A hoặc nhóm B truyền cho nhóm AB.

 

2.5. Chuẩn bị để truyền máu. 

2.5.1. Hồ sơ bệnh án:

- Cán bộ y học viên phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ bệnh án, đọc kỹ phần y lệnh mà bác sĩ đã ghi:

+ Nhóm máu để truyền

+ Số lượng cần truyền

+ Ngày giờ truyền

+ Tốc độ truyền

+ Ngày, giờ, họ tên, chức vụ, người ký y lệnh

- Đọc kết quả xét nghiệm nhóm máu của bệnh nhân

- Lấy mạch, nhiệt độ, nhịp thở huyết áp và ghi vào hồ sơ bệnh án.

2.5.2. Chuẩn bị địa điểm:

Địa điểm phải thoáng, đủ ánh sáng, đảm bảo vô khuẩn.

2.5.3. Chuẩn bị bệnh nhân:

- Giải thích để bệnh nhân yên tâm và nói để họ rõ thời gian truyền bao lâu sẽ xong.

- Lấy các dấu hiệu sinh tồn

- Xem bệnh nhân có dị ứng hay có tiền sử phản ứng với máu không?

- Vệ sinh thân thể nhất là cùng truyền.

- Dặn bệnh nhân đi đại tiểu tiện trước khi truyền.

2.5.4. Chuẩn bị dụng cụ:

- Chai máu hoặc túi máu (1 đơn vị máu) cùng một lúc người bệnh không được nhận quá 1 đơn vị máu (là 500ml).

Đây là một khâu quan trọng nhất, nên người cán bộ y học phải kiểm tra đối chiếu cẩn thận.

+ Kiểm tra nhãn hiệu chai máu:

. Có nhãn không (nếu không có không nhận)

. Có nhãn nhưng phải ghi đầy đủ: số chai, nhóm máu, số lượng máu, tên người cho, người lấy, ngày giờ tháng lấy.

+ Kiểm tra chất lượng:

. Nút chai cónguyên vẹn, có rạn nứt không.

. Chai máu vừa lấy ở tủ lạnh ra còn phân biệt rõ 3 lớp, màu sắc có tươi hay có hiện tượng tiêu huyết, nhiễm khuẩn.

. Chai máu có vón cục không, có để ra ngoài tủ lạnh quá 30 phút không.

+ Đối chiếu:

. Chai máu lĩnh có phù hợp với phiếu lĩnh máu không.

. Phản ứng chéo giữa chai máu và máu của bệnh nhân có hiện tượng ngưng kết không.

- Một bộ dây truyền máu: có 2 loại, một loại dây thẳng và một loại dây chữ Y vì có thể phải truyền dung dịch mặn nếu có những phản ứng do truyền máu, dây truyền có một cái lọc ở trong bầu nhỏ giọt, khoá dây truyền phải ở dưới bầu nhỏ giọt.

- Một hộp kim tiêm tĩnh mạch cỡ 18, 15 hoặc catheter (đường kính của kim to để tránh vỡ hồng cầu).

- Chai nước muối sinh lý 0,9% (Một vài cơ sở yêu cầu truyền nước muối 0,9% trước và sau khi truyền máu).

- Một cọc truyền tĩnh mạch - quang treo.

- Bộ tứ (nẹp gỗ, gối kê tay, tấm nylon nhỏ, dây cao su).

- Khay men vô khuẩn.

- Khay quả đậu.

- Kẹp Kocher

- Huyết áp kế, ống nghe, nhiệt kế, đồng hồ đếm mạch, nhịp thở.

- Hộp thuốc cấp cứu.

- Thuốc theo y lệnh nếu có.

- Dung dịch sát khuẩn, bát kền, kéo, bǎng dính.

- Dụng cụ làm phản ứng chéo, huyết thanh mẫu...

- Bơm tiêm vô khuẩn 5ml - 10ml.

- Gạc miếng đã hấp.

- Phiếu truyền máu.

2.6. Tiến hành kỹ thuật.

- Rửa tay, đeo khẩu trang.

- Đối chiếu phiếu lĩnh máu với chai máu (lần 2).

- Kiểm tra chai dung dịch NaCl 0,9%.

- Sát khuẩn tay bằng cồn (lần 1).

- Gắp dụng cụ (bơm tiêm, gạc...) đã hấp ra khay vô khuẩn.

- Kiểm tra lại chai máu: tên bệnh nhân, số đơn vị máu, nhóm máu và yếu tố Rh, số của người cho và thời gian hết hạn. Đảm bảo máu để ở nhiệt độ phòng không quá 30 phút (nếu các thành phần của máu ấm lên, nguy cơ vi khuẩn phát triển cũng tǎng).

- Nhẹ nhàng lắc đều chai máu, bỏ miếng gạc ở nút chai rồi sát khuẩn nút và lắp vào quang treo.

- Làm phản ứng chéo: lấy máu mao mạch ở đầu ngón tay bệnh nhân và dùng bơm tiêm lấy máu ở chai máu làm phản ứng.

- Đặt cọc truyền ở cạnh giường, nơi thích hợp, đặt xe hoặc khay, sao cho tiện việc tiến hành kỹ thuật.

- Cắm kim thông khí trước, kim truyền sau vào nút chai dung dịch muối sinh lý 0,9%, khoá lại đậy nắp ambu.

- Treo chai truyền dịch lên cọc truyền và tiến hành đuổi không khí trong bộ dây ra (kỹ thuật giống bài tiêm truyền) (H.108)

- Lắp kim vào bơm tiêm có nước muối sinh lý 0,9%.

- Chọn vị trí truyền rồi đặt tấm nylon và gối kê tay ở dưới (H.109).

- Buộc dây cao su cách vùng đó 3cm.

- Sát khuẩn bằng cồn vùng tiêm 2 lần xoáy chôn ốc từ trong ra ngoài (H.110)

Hình 108-111/199

- Sát khuẩn tay cán bộ y học viên lần 2.

- Cầm bơm tiêm có gắn kim chếch 30? so với mặt da, đưa kim đúng vào tĩnh mạch, (nếu là kim bướm thì không phải dùng bơm tiêm như hình 111).

- Khi kim vào tĩnh mạch dùng tay trái tháo dây cao su buộc, sau đó lấy ngón nhẫn của tay trái đè lên mũi vát của kim, ngón cái và ngón trỏ giữ đốc kim, tay phải tháo bơm tiêm để xuống khay quả đậu rồi cầm kìm kẹp ở đầu của bộ dây truyền lắp vào đốc kim, mở kìm, mở khoá cho dịch chảy vừa phải.

- Lót miếng gạc đã hấp ở dưới đốc kim và gập hai đầu gạc cho gọn gàng và cố định bǎng dính (H.112) vào da bệnh nhân.

Hình 112/200

- Rút gối nhỏ và tấm nylon ở dưới tay bệnh nhânvà đặt nẹp buộc cố định (nếu bệnh nhân giãy giụa nhiều thì buộc nẹp, tay vào thành giường).

- Rút kim ở chai dung dịch muối sinh lý chuyển sang chai máu đã treo bên cạnh.

- Làm phản ứng sinh vật: Cho chảy bình thường được 4ml rồi cho chảy chậm lại 8-10 giọt/phút.

Sau 5 phút, nếu không có triệu chứng gì thì cho chảy tốc độ bình thường 200ml nữa và lại cho chảy chậm 8-10 giọt/phút, sau 5 phút không có triệu chứng gì xảy ra thì mới cho chảy bình thường.

Nếu trường hợp cấp cứu do mất lượng máu quá nhiều thì sẽ có chỉ định đặc biệt riêng và bác sĩ theo dõi sát.

- Trong khi truyền nếu bệnh nhân mỏi mệt, giúp họ thay đổi tư thế nhẹ nhàng.

- Ghi vào bảng theo dõi và ghi vào hồ sơ tình trạng bệnh nhân 15 phút đầu khi đưa máu vào tĩnh mạch (theo dõi các dấu hiệu sinh tồn), 30 phút sau lại lấy mạch, huyết áp, nhịp thở duy trì suốt thời gian truyền.

- Thêo dõi chặt chẽ triệu chứng của những phản ứng xảy ra: Đau đầu, nôn, sốt, nốt ban, thiểu niệu, rối loạn nhịp thở... và các ống thông có sẵn trên người bệnh (theo dõi xem ống có tắc không).

- Khi đang truyền, nếu hết ca phải bàn giao cho ca trực mới, phải có ghi chép đầy đủ tình trạng bệnh nhân.

- Khi máu trong chai còn lại 10ml thì thôi không truyền nữa để lại làm chứng.

- Rút kim ra khỏi tĩnh mạch và lấy bông cồn sát khuẩn đặt nhẹ vào vùng tiêm vừa rút kim.

- Cho bệnh nhân nghỉ ngơi tại chỗ và tiếp tục theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở và các dấu hiệu phản ứng nếu xảy ra.

- Ghi lại tình hình bệnh nhân từ lúc bắt đầu truyền đến khi bệnh nhân không truyền nữa.

- Thu dọn dụng cụ, rửa, hấp.

Cách tính tốc độ truyền máu:

2.7. Tai biến và xử trí. 

2.7.1. Sốc tiêu huyết.

Nguyên nhân: Thường do 3 nguyên nhân:

- Kỹ thuật bảo quản máu không đúng quy tắc chuyên môn.

- Hồng cầu người nhận bị tiêu hủy bởi huyết thanh người cho.

- Truyền nhầm nhóm.

Triệu chứng: Nhức đầu, khó thở, rét run, mạch nhanh yếu, huyết áp hạ, đau quặn vùng thắt lưng, đái ít, nước tiểu có huyết sắc tố, rồi vô niệu, urê huyết tǎng.

Xử trí:

Ngừng truyền máu, đồng thời cho người báo khẩn cấp với thầy thuốc, đồng thời người y tá phải nhanh chóng tiêm cho bệnh nhân 1 ống long não nước 0,2g, cho thở ôxy, nếu bệnh nhân ngừng tim phải làm hô hấp nhân tạo và xoa bóp tim ngoài lồng ngực hoặc tiêm 1 ống adrenalin 0,001g vào dưới da.

Khi thầy thuốc có mặt, người y tá cần chuẩn bị:

- Máu cùng nhóm

- Novocain 0,25 - 1%

- Các loại huyết thanh để nhỏ giọt

- Các loại trợ tim: Long não, noradrenalin, adrenalin, ephedrin...

- Natri citrat.

- Oxy

2.7.2. Sốc phản vệ.

Nguyên nhân: là do dụng cụ, nhất là bộ dây truyền không loại hết chất gây sốt (chí nhiệt tố).

Triệu chứng: thường xuất hiện sau khi truyền khoảng 20-30 với các triệu chứng chính:

- Theo dõi chặt chẽ triệu chứng của những phản ứng xảy ra: đau đầu, nôn, sốt, nốt ban, thiểu niệu, rối loạn nhịp thở... và các ống thông có sẵn trên người bệnh (theo dõi xem ống có tắc không).

- Khi đang truyền, nếu hết ca phải bàn giao cho ca trực mới, và có ghi chép đầy đủ tình trạng bệnh nhân.

- Khi máu trong chai còn lại 10ml thì thôi không truyền nữa để lại làm chứng.

- Rút kim ra khỏi tĩnh mạch và lấy bông cồn sát khuẩn đặt nhẹ vào vùng tiêm vừa rút kim.

. Cho bệnh nhân nghỉ ngơi tại chỗ và tiếp tục theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở và các dấu hiệu phản ứng nếu xảy ra.

- Ghi lại tình hình bệnh nhân từ lúc bắt đầu truyền đến khi bệnh nhân không truyền nữa.

- Thu dọn dụng cụ, rửa, hấp.

Cách tính tốc độ truyền máu:

Tổng số dịch truyền x giọt. ml

= số giọt/phút

Tổng số phút

2.7. Tai biến và xử trí. 

2. 7. 1. Sốc tiêu huyết.

Nguyên nhân: Thường do 3 nguyên nhân:

- Kỹ thuật bảo quản máu không đúng quy tắc chuyên môn.

- Hồng cầu người nhận bị tiêu hủy bởi huyết thanh người cho.

- Truyền nhầm nhóm.

Triệu chứng: Nhức đầu, khó thở, rét run, mạch nhanh yếu, huyết áp hạ, đau quặn vùng thắt lưng, đái ít, nước tiểu có huyết sắc tố, rồi vô niệu, urê huyết tǎng.

Xử trí:

Ngừng truyền máu, đồng thời cho người báo khẩn cấp với thầy thuốc, đồng thời người y tá phải nhanh chóng tiêm cho bệnh nhân 1 ống long não nước 0,20g, cho thở oxy, nếu bệnh nhân ngừng tim phải làm hô hấp nhân tạo và xoa bóp tim ngoài lồng ngực hoặc tiêm 1 ống adrenalin 0,001g vào dưới da.

Khi thầy thuốc có mặt, người y tá cần chuẩn bị:

- Máu cùng nhóm,

- Novocain 0,25 - 1%,

- Các loại huyết thanh để nhỏ giọt,

- Các loại trợ tim: Long não, noradrenalin, adrenalin, ephedrin

- Natri citrat

- Oxy

2. 7.2 Sốc phản vệ.

Nguyên nhân: là do dụng cụ, nhất là bộ dây truyền không loại hết chất gây sốt (chí nhiệt tố).

Triệu chứng: thường xuất hiện sau khi truyền khoảng 20-30 phút với các triệu chứng chính: Nhức đầu, buồn nôn, khó thở, rét run, thân nhiệt tǎng, mạch nhanh yếu (nhưng không tổn thương thận).

Xử trí:

- Ngừng truyền và kiểm tra lại,

- Cho trợ tim, trợ lực,

- Cho thở oxy,

- Cho kháng histamin tổng hợp như pipolphen, AH3, thiantan...

- Thay bộ dây mới rồi tiếp tục truyền.

2.7.3. Suy tim cấp và phù phổi cấp.

Nguyên nhân: do truyền tĩnh mạch với tốc độ quá nhanh.

Triệu chứng: Biểu hiện bằng trụy tim hoặc tức ngực khó thở, tím tái, bệnh nhân hoảng sợ...

Xử trí:

- Ngừng truyền ngay,

- Cho trợ lực, trợ tim (nếu trụy tim),

- Cho thở oxy,

2. 7.4. Truyền nhầm nhóm máu: bệnh nhân sẽ có các triệu chứng nhức đầu, khó thở, rét run... mạch nhanh yếu, huyết áp hạ, đái ít, nước tiểu có sắc tố rồi vô niệu. Đau quặn vùng thắt lưng, ngừng ngay truyền mời bác sĩ xử trí ngay.

2.7.5. Không đảm bảo kỹ thuật vô khuẩn (nhiễm khuẩn huyết)

Ngoài 5 tai biến trên, còn có tai biến như tắc mạch hơi hoặc các tai biến muộn như viêm gan, giang mai, sốt rét, nhiễm HIV, những tai biến muộn thường do khi chọn người cho máu không kiểm tra cẩn thận.

 


 

ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN


 

 

 Bài 15: CHO BỆNH NHÂN THỞ OXY

1. Cơ sở lý thuyết

Một trong những nhu cầu cơ bản nhất của mỗi cá nhân là được cung cấp đủ oxy mọi tế bào trong cơ thể cần được cung cấp oxy để chuyển hóa, dinh dưỡng và tạo ra năng lượng cần thiết cho sự hoạt động cửa cơ thể. Nếu không có oxy thì tốc độ chuyển hóa tế bào giảm xuống và một số tế bào bắt đầu chết sau khoảng 30 giây nếu không được cung cấp oxy.

Trung tâm hô hấp Ở hành não điều hòa tần số hô hấp. Trung tâm này rất nhạy cảm với nồng độ khí carbonic (CO2) và oxy (O2) ở trong máu , đặc biệt là nồng độ CO2. Khi nồng độ CO2 trong máu tăng lên thì hô hấp tăng lên về tần số và biên độ để tăng đào thải khi thừa.

Tần số hô hấp bình thường ở trẻ sơ sinh là khoảng 40 lần/phút.

trẻ nhỏ dưới 3 tuổi là khoảng  30-35 lần/phút..

trẻ lớn tần số hô hấp khoảng 25-30 lần/phút..

người lớn tần số hô hấp khoảng 14-22 lần/phút.

Bệnh nhân bị nhiễm khuẩn hoặc mắc bệnh đường hô hấp thương có biểu hiện khó thở dẫn đến tình trạng thiếu oxy. Mỗi cán bộ y học viên phải rất cảnh giác. Thận trọng khi có những vấn đề về hô hấp xảy ra và khi xử trí những vấn đề đó.

1.1 Bệnh nhân có nguy cơ thiếu oxy. 

1.1.1. Tắc nghẽn đường hô hấp vì bất cứ nguyên nhân gì: đờm, dãi, dịch, dị vật, co thắt, sưng nề.

1.1.2. Hạn chế hoạt động của lồng ngực ví dụ: hậu phẫu ở bụng, chấn thương lồng ngực, bệnh lý của cột sống, tình trạng viêm nhiễm như viêm phúc mạc.

1.1.3. Suy giảm chức năng của hệ thống thần kinh có tham gia quá trình hô hấp, ví dụ: viêm não, chấn thương sọ não, hôn mê, bệnh nhân được gây mê toàn thân, tai biến mạch máu não và các bệnh gây liệt như: bại liệt, đa xơ cứng.

1.1.4. Cản trở sự khuếch tán của khí trong phổi: tình trạng này thường do khối u trong phổi và các bệnh: Khí phế thũng, tắc mạch phổi và chấn thương.

1.1.5. Thiếu oxy trong không khí do điều kiện, hoàn cảnh môi trường. Ví dụ: Môi trường quá nóng, quá nhiều khói, sương hoặc không khí quá loãng ở nơi có áp suất khí quyển cao.

1.2. Dấu hiệu và triệu chứng của thiếu oxy.

- Bệnh nhân kêu khó thở. Bệnh nhân thường kêu: "tôi không thở được" hoặc "tôi cảm thấy là bị nghẹt thở".

- Bệnh nhân thường phải ngồi dậy để thở

- Bệnh nhân biểu hiện lo âu, hoảng hốt, bồn chồn

- Vật vã kích thích

- Giảm thị lực

- Trí nhớ giảm, có thể lẫn lộn

- Giảm trương lực và sự phối hợp của cơ

- Trong giai đoạn đầu: huyết áp, mạch và tấn số hô hấp tăng vì tim đập tăng lên để đáp ứng nhu cầu oxy của cơ thể.

- Trong giai đoạn muộn: bệnh nhân có biểu hiện tím tái, thở dốc, rút làm co kéo các cơ hô hấp. Huyết áp và mạch giảm. Mất khả năng vận động đi lại.

Xét nghiệm phân tích khí máu động mạch thấy PaCOa tăng PaO2 giảm

1.3. Lưu ý khi sử dụng oxy liệu pháp.

Khi bệnh nhân có dấu hiệu và triệu chứng của thiếu oxy thì thường được chỉ định sử dụng dưới các hình thức khác nhau như: qua ống thông mũi hầu, qua mặt nạ hoặc lều oxy, phương pháp lều oxy hiện nay ít khi được sử dụng.

Oxy là một khí không màu, không mùi, không vị. Trong không khí oxy chiếm tỷ lệ xấp xỉ 21%. Oxy rất cần cho sự sống nhưng việc sử dụng oxy cũng có những mặt trái của nó vì:

- Oxy là một chất khí dễ cháy, nổ: phải đề phòng cháy, nổ.

- Khi sử dụng oxy thì khả năng nhiễm khuẩn cao vì vi khuẩn phát triển nhanh trong môi trường khí oxy và dễ dàng xâm nhập vào bộ máy hô hấp đã bị thương sẵn, cần đề phòng nhiễm khuẩn.

- Oxy là một khí khô nên nếu không được làm ẩm thì thở oxy sẽ làm khô các tế bào bộ máy hô hấp do vậy giảm sức đề kháng với sự nhiễm khuẩn.

- Khi nồng độ oxy trong máu cao thì lại gián tiếp ức chế trung tâm hô hấp thậm chỉ dẫn đến ngừng thở.

- Cần điều chỉnh lưu lượng chính xác

2. NGUY? TắC Sử DụNG OXY 

2.1. Sử dụng đúng lưu lượng.

- Sử dụng lưu lượng oxy theo chỉ định và phương pháp thích hợp (vì lượng oxy vừa đủ thì có tác dụng cứu sống người bệnh) nhưng lượng oxy quá nhiều thì có thể đe dọa tính mạng của bệnh nhân.

2.2. Phòng tránh nhiễm khuẩn.

- Dụng cụ vô khuẩn

- Thay ống thông và đổi bên lỗ mũi 8 giờ/1ần

- Vệ sinh miệng cho bệnh nhân 3-4 giờ/1ần

- Luôn giữ ống thông khô (tránh tắc ống)

2.3. Phòng tránh khô đường hô hấp.

- Làm ẩm oxy bằng dung dịch sạch

- Ðộng viên bệnh nhân thường xuyên uống nước (uống ít một mỗi lần hoặc nhấp giọng nhiều lần.

2.4. Phòng chống cháy nổ. 

+ Dùng biển "cấm lửa" hoặc "không hút THUỐC" TREO Ở KHU VỰC đang cho bệnh nhân thở oxy.

+ Căn dặn bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, khách thăm không được sử dụng vật phát lửa như: bật lửa, diêm, nến, đèn dầu....

+ Các thiết bị dùng điện phải có dây tiếp đất để TRÁNH SỰ PHÁT TIA LỬA ÐIỆN.

3. QUY TRìNH Kỹ THUậT. 

3.1. Thở bằng ống thông mũi hầu. 

3.1.1. Chuẩn bị bệnh nhân

- Thông báo và giải thích cho bệnh nhân về thủ thuật sắp làm. Ðộng viên bệnh nhân hít vào qua đường mũi để tránh làm loãng nồng độ oxy.

- Ðặt bệnh nhân nằm tư thế thích hợp, thoải mái (thông thường bệnh nhân được đặt ở tư thế nửa nằm nửa ngồi) nhưng phải đảm bảo đường hô hấp được thông thoát.

3.1.2. DỤNG CỤ.

ống thông mũi hấu dùng 1 lần hoặc ống thông Nelaton vô khuẩn cỡ số thích hợp: Trẻ em dùng cỡ số 8 hoặc 10.

Người lớn nam giới dùng cỡ số 12 hoặc 14.

Người lớn phụ nữ dùng cỡ số 10 hoặc 12.

- Bình oxy, áp lực kế, lưu lượng kế, dây dẫn, ống nối tiếp...

- Bình làm ấm đựng nước cất hoặc nước chín (đổ nước 1/2 bình)

- Dầu nhờn vô khuẩn hoặc cốc đựng nước chín

- Gạc (2-3 miếng)

- Băng dính, kéo

- Kim băng

- Ðèn pin hoặc đèn soi và cái đè lưỡi.

3.1.3 Kỹ thuật

Các bước

- Rửa tay

- Chuẩn bị và sắp xếp dụng cụ.

- Ðưa dụng cụ đến bên giường bệnh. Nhận định bệnh nhân.

- Ðánh giá về tình trạng chung của bệnh nhân, lưu ý tình trạng về hô hấp tuần hoàn.

Ðể biết về tình trạng bệnh nhân trước khi áp dụng thủ thuật.

- Hướng dẫn và giải thích cho bệnh nhân, chú ý giải thích về tầm quan trọng của thủ thuật sắp làm. Thông báo cho bệnh nhân và người nhà về những quy tắc an toàn trong khi bệnh nhân đang thở oxy.

- Hút đờm dãi cho bệnh nhân, nếu cần thiết rồi đặt bệnh NHÂN Ở TƯ THẾ NỬA NẰM NỬA ngồi hoặc nằm ngửa kê gối mỏng dưới vai phù hợp với bệnh để làm thông đường hô hấp và giúp bệnh nhân thở dễ dàng hơn. Tư thế Fowler hoặc bán Fowler cho phép sự giãn nở tốt hơn của lồng ngực.

- Lắp ráp hệ thống thở oxy và kiểm tra lại sự hoạt động của toàn bộ hệ thống.

Mở van điều chỉnh lưu lượng oxy tới 3 lít/phút. Nhúng một đầu ống thông vào cốc nước nếu thấy có bóng nổi lên chứng tỏ sự thông suốt của toàn bộ hệ thống. Sau khi thử xong, đóng van lại (H.130)

- Ðo và đánh dấu ống thông

Cách đo: Ðo từ đỉnh mũi tới dái tai. Sau khi đo xong thì dùng mảnh băng dính để đánh dấu điểm vừa đo. Ðể đảm bảo đầu ống thông được đưa vào đúng vị trí, không bị sâu quá hoặc nông quá (H.131).

- Bôi trơn đầu ống thông:

+ Bơm kem bôi trơn tan trong nước ra miếng gạc vuông rồi xoay xoay đầu ống qua đó (không được dùng các loại dầu bôi trơn thông thường như glycerin hoặc paraffine...)

+ Nếu không có kem hòa tan trong nước thì chỉ cần nhúng đầu ống vào cốc nước sau đó vẩy nhẹ cho hết nước đọng.

- Vặn van điều chỉnh lưu lượng lên 3 lít/phút trước khi đưa ống thông vào.

- Nhẹ nhàng đưa ống thông vào một bên lỗ mũi cho tới khi điểm đánh dấu chạm vào bờ lỗ mũi. Có thể dùng đè lưỡi và đèn soi để kiểm tra vị trí của đầu ống thông. Nếu thấy đầu ống thông ở vị trí cạnh với lưỡi gà thì phải rút ống thông lại một chút cho đến khi không nhìn thấy thì thôi (H.132).

Bôi trơn đầu thông để đưa ống vào được dễ dàng, tránh GÂY TỔN THƯƠNG NIÊM MẠC NHẦY Ở mũi. Không dùng các loại dầu bôi trơn thông thường (dầu khoáng) để đề phòng trường hợp bệnh nhân hít phải có thể gây kích thích nặng ở phổi hoặc viêm phổi dạng mỡ (Lipoid pneumonia).

Luồng oxy đi qua ống thông sẽ tránh được sự tắc ống thông do dịch xuất tiết trong khi đưa ống thông vào.

Phải kiểm tra vị trí đấu ống vì nếu đầu ống ở quá sâu thì bệnh nhân sẽ nuốt vào nhiều oxy gây chướng bụng và khó chịu...

- Dán băng dính cố định ống thông có thể dán vào một bên mũi và má hoặc dán vào đỉnh mũi và trán. Gài kim băng để cố định ống vào vỏ gối hoặc áo của bệnh nhân.

- Dán băng dính và cài kim băng để khi bệnh nhân cử động cũng không làm thay đổi vị trí của ống thông.

- Ðiều chỉnh lưu lượng theo chỉ định

- Ðánh giá lại tình trạng bệnh nhân về màu da, tình trạng, tính chất hô hấp và các dấu hiệu sinh tồn khác như mạch và huyết áp.

- Treo bảng "cấm lửa" vào vị trí dễ nhìn thấy nhất và kiểm tra lại các quy tắc an toàn xem đã được thực hiện chưa.

- Thu dọn dụng cụ: đưa các dụng cụ sạch về vị trí cũ. Xử lý các dụng cụ bẩn theo quy định.

- Ghi chép vào hồ sơ chăm sóc.

Nội dung ghi chép:

+ Tình trạng bệnh nhân trước khi thở oxy

+ Thời gian bắt đầu thực hiện thủ thuật, lưu lượng oxy/phút

+ Tình trạng bệnh nhân sau khi làm thủ thuật và trong quy trình thở oxy

+ Người thực hiện: ký tên

3.2. Thở oxy qua mặt nạ

Mặt nạ là một dụng cụ phủ kín miệng và mũi bệnh nhân và được dùng để cho bệnh nhân thở oxy trong những trường hợp khẩn cấp hoặc khi bệnh nhân có tổn thương mũi, hầu. Thở bằng mặt nạ có thể cung cấp một nồng độ oxy cao (tham khảo bảng dưới đây). Một số ít được thiết kế để có thể cung cấp oxy đạt tới nồng độ 90%. Tuy nhiên người ta ít khi cchỉ định cho thở oxy với nồng độ cao hơn 60% để đề phòng mối nguy hiểm do ngộ độc oxy.

Thở oxy qua mặt nạ không nên áp dụng trong các trường hợp sau:

Nồng độ oxy tính theo lưu lượng lít/phút

Qua ống thông mũi hầu

Qua mặt nạ

1 lít – 24%

2 lít – 28%

3 lít – 32%

4 lít – 36%

5 lít – 40%

5-6 lít – 40%

6-7 lít – 50%

7-8 lít – 60%

3.1.1. Chuẩn bị bệnh nhân

Như chuẩn bị bệnh nhân ơe phần thở oxy qua ống thông mũi hầu.

3.2.2. Dụng cụ:

- Bình oxy, áp lực kế, lưu lượng kế

- Bình làm ẩm, đựng nước cất hoặc nước chín

- Mặt nạ theo chỉ định cỡ số thích hợp (dùng loại mặt nạ có bình thở lại hoặc không có bình thở lại là tùy thuộc vào từng bệnh nhân cần nồng độ oxy cao hay thấp).

- Dây dẫn, ống nối tiếp.

3.2.3. Kỹ thuật các bước:

- Thực hiện các bước từ 1-6 như trong kỹ thuật cho thở oxy qua đường thông mũi hầu.

- Ðộng viên bệnh nhân tự cầm và điều khiển mặt nạ theo chỉ dẫn (nếu bệnh nhân tự làm được).

- Ðưa mặt nạ về phía mặt bệnh nhân và áp mặt nạ từ phía mũi xuống miệng.

- Vặn van điều chỉnh lưu lượng oxy theo chỉ định.

- Ðiều chỉnh mặt nạ cho khít với mặt bệnh nhân.

- Mặt nạ phải áp sát với mặt bệnh nhân để sao cho càng ít oxy thoát ra qua khe hở giữa mặt nạ với da mặt càng tốt.

- Cố định băng co giãn quanh đầu bệnh nhân. Buộc băng vừa phải không chật quá làm mặt nạ bị xê dịch khỏi vị trí đúng.

- Thực hiện tiếp các bước 14-17 như trong kỹ thuật thở oxy qua đường mũi hầu, cần lưu ý một số điểm sau:

- Phải quan sát da mặt của bệnh nhân ở VÙNG ÐẶT MẶT NẠ ÐỂ XEM CÓ BỊ KÍCH thích do dị ứng với chất cao su hoặc nhựa cao su hoặc nhựa của mặt nạ không?

- Sau khoảng 1 giờ 30 phút - 2 giờ phải tháo mặt nạ ra lau khô lại mặt nạ và lau mặt cho bệnh nhân. Hoặc khi thấy mặt nạ đọng nhiều mồ hôi muối thì phải tháo ra lau khô ngay. Ðể làm cho bệnh nhân thoải mái dễ chịu.



 

Mục lục

YKHOANET - Website Y Khoa Việt Nam

 



 

ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN


 

 

Bài 17: Kỹ thuật lấy bệnh phẩm xét nghiệm

1. Đại cương

Trong việc thăm khám, chữa bệnh, ngoài việc khai thác các dấu hiệu lâm sàng do thầy thuốc làm, còn phải làm các xét nghiệm. Vì các kết quả xét nghiệm giúp cho thầy thuốc chẩn đoán và theo dõi bệnh được chíng xác, khách quan, giúp cho việc điều trị đạt kết quả tốt. Do đó việc lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm rất quan trọng. Người cán bộ y học phải chuẩn bị và tiến hành lấy bệnh phẩm đúng kỹ thuật.

2. kỹ thuật 

2.1. Cách lấy máu để làm xét nghiệm:

Có rất nhiều xét nghiệm về máu như xét nghiệm sinh hóa, tế bào, vi khuẩn...

Có hai cách: lấy máu tĩnh mạch và mao mạch.

2.1.1 Lấy máu tĩnh mạch:

a) Chuẩn bị dụng cụ:

- Vô khuẩn

+ Bơm tiêm (Tùy số lượng máu làm xét nghiệm)

+ Kim tiêm

- Những dụng cụ khác

+ Bông tẩm cồn.

+ Lọ hoặc ống nghiệm dán nhãn tên, tuổi của bệnh nhân, số giường, khoa phòng. Có chất chống đông hay không tùy loại xét nghiệm.

+ Dây ga rô.

+ Khay quả đậu có nước.

+ Túi giấy.

+ Gối nhỏ bọc nylon.

b) Chuẩn bị bệnh nhân:

- Báo và giải thích cho bệnh nhân biết rõ về mục đích, việc làm (nếu bệnh nhân tỉnh), bệnh nhi và bệnh nhân hôn mê phải giải thích cho người nhà bệnh nhân.

- Tay bệnh nhân phải sạch, nếu bẩn thì trước khi lấy máu phải rửa tay bệnh nhân bằng xà phòng.

c) Tiến hành:

- Cho bệnh nhân nằm thoải mái trên giường, nếu là trẻ nhỏ phải có người giữ để trề khỏi giãy giụa.

- Chọn tĩnh mạch thích hợp thường lấy máu ở nếp gấp khuỷu tay (hệ thống M tĩnh mạch), đặt gối ở dưới chỗ định lấy máu, trẻ nhỏ thường lấy ở tĩnh mạch thóp, tĩnh mạch cổ, tĩnh mạch thái dương, tĩnh mạch thấy rõ mà không di chuyển.

- Lắp kim vào bơm tiêm và kiểm tra xem kim có thông không.

- Buộc gây ga rô cách chỗ tiêm 5cm về phía trên.

- Sát khuẩn da thật kỹ và để khô.

- Ðưa kim vào tĩnh mạch, mở dây ga rô (nếu thử máu về sinh hóa).

- Kéo lui nòng nhẹ nhàng và rút đủ số máu cần thiết tránh tạo bọt khí.

- Tháo dây ga rô, rút kim ra, ấn nhẹ bông nơi tiêm, bảo bệnh nhân gấp tay lại.

- Tháo kim ra, bơm máu nhẹ nhàng vào ống nghiệm, đậy nút lại.

+ Ðặt bơm tiêm chếch với thành ống nghiệm một góc 45o.

+ Bơm từ từ máu theo thành ống để tránh làm vỡ hồng cầu.

- Gửi bệnh phẩm và giấy xét nghiệm đến phòng xét nghiệm. 

d) Thu dọn và bảo quản dụng cụ

- Rửa bơm tiêm, kim tiêm với nước xà phòng thật sạch.

- Lau khô và gửi đi tiệt khuẩn.

e) Ghi hồ sơ:

- Ngày giờ lấy máu.

- SỐ LƯỢNG máu.

- Loại xét nghiệm.

- Tên người thực hiện. 

g) Những điểm cần 1ưu ý:

- Chuẩn bị bệnh nhân cẩn thận trước khi lấy máu.

- Bơm, kim tiêm phải thật khô và vô khuẩn.

- Trường hợp cấy máu nên lấy trước khi dùng kháng sinh.

1.2.2 Lấy MÁU MAO MẠCH:

áp dụng trong:

- Tìm ký sinh trùng sốt rét, lấy máu khi bệnh. nhân lên cơn sốt.

- Tìm ấu trùng giun chỉ: lấy máu lúc 12giờ trưa hoặc 24 giờ đêm.

a) Chuẩn bị dụng cụ:

- 5 phiến kính thật sạch và khô, lựa 1 phiến kính có cạnh nhẵn đế làm kính kéo.

- Kim vô khuẩn hoặc lan xét (lancett).

- Bông tẩm eồn.

- Bông khô.

- Bút chì, túi giấy. 

b) Chuẩn bị bệnh nhân: giống như phần lấy máu tĩnh mạch.

c) Tiến hành:

- Lau sạch đầu ngón tay, thường là ngón áp út hay dái tai, bằng tẩm cồn (Ngón tay này ít sử dụng đến).

- Ðiều đường viên dùng ngón cái và ngón trỏ bóp chặt đầu ngón tay nhân (tránh máu bị lan rộng).

- Dùng kim đám một bên đầu ngón tay với động tác nhanh. Vết chích vừa phải để máu trào lên thành giọt nhỏ khi bóp nhẹ.

- Lau bỏ giọt máu đầu.

- Lấy giọt máu thứ hai lên giữa kính, đặt cạnh kính chéo cho tiếp xúc với giọt máu một góc 30. Ðợi máu phán tán qua kính 1 và 2.

- Ðẩy kính kéo lên phía trước với động tác đều và nhanh để có làn máu mỏng, đều đặn, không dừng lại khi làn máu còn ngắn vì các tế bào chồng lên nhau.

- Lau khô ngón tay lần nữa, bóp nhẹ để có giọt máu lớn và tròn, để làm giọt máu đặc.

- Cầm hai cạnh của kính phía đuôi làn máu, chấm đầu kia phiến kính vào đỉnh giọt máu. ÚP MẶT KÍNH có máu xuống phía dưới không cho kính chạm vào đầu ngón tay.

- Dùng góc cạnh của kính trộn giọt máu theo chuyển động tròn đường kính làm để tránh tan sợi fibrin, tránh che khuất ký sinh trùng.

- Ngừng động tác ngoáy ở trung tâm lớp máu tạo giọt máu có viền mỏng.

- Ghi tên bệnh nhân, số giường lên kính.

- Ðể khô gói lại, gửi phòng xét nghiệm. 

d) Ghi hô sơ.

- Ngày giờ lấy máu.

- Tên người lấy.

e) Những điểm cần lưu ý.

Ðừng làm giọt máu quá đặc vì khi khô sẽ bị nứt và tróc khỏi kính. Giọt máu đặc vừa phải là khi giọt máu còn ướt, đặt kính lên tờ báo nhìn thấy chữ in.

- Làn máu mỏng phải thật mỏng không có sọc và loang

- Các viền của làn máu mỏng phải nằm trên kính.

2.2 Cách lấy đờm, phần, mủ để xét nghiệm: 

2.2.1 Chuẩn bị dụng cụ:

- Khay vô khuẩn có phủ khăn vô khuẩn.

+ Bơm tiêm, kim tiêm.

+ Tăm bông.

+ Kẹp.

- Dụng cụ khác:

+ Lọ nhỏ hấp hoặc luộc sạch.

+ Phiến kính hoặc ống nghiệm vô khuẩn.

+ Ðèn cồn.

+ Khay quả đậu.

Phải vô khuẩn khi thử về vi khuẩn.

2.2.2 Tiến hành:

a) Ðờm: Lấy đờm để tìm vi khuẩn.

- ÁP DỤNG: trong những bệnh về hô hấp.

- Kỹ thuật:

+ Cho bệnh nhân đánh răng, xúc miệng làm bớt tạp khuẩn trong miệng và họng:

+ Bảo bệnh nhân ho mạnh, khạc đờm vào vật chứa.

+ Dùng que lấy một chút đờm, cho vào ống tiệt khuẩn, đậy kín lại. Lấy chỗ có đờm chứ không phải nước bọt.

+ Có thể dùng tăm bông vô khuẩn quệt vào niêm mạc miệng họng rồi phết lên phiến kính hoặc để cả tăm bông vào ống nghiệm tiệt khuẩn gửi lên phòng xét nghiệm. (Trường hợp bệnh nhân ít đờm, hoặc không khạc được đờm).

b) Phân:

- Lấy phân nhằm mục đích:

+ Thử nghiệm sinh hóa: máu, sắc tố mật, mỡ.

+ Tìm vi khuẩn và ký sinh trùng đường ruột.

- Áp dụng: Trong những bệnh về tiêu hóa và những cơ quan liên quan như gan, tụy...

- Kỹ thuật:

+ Cho bệnh nhân đi tiểu, hứng nước tiểu riêng. Trường hợp cấy vi khuẩn dùng khay quả đậu to tiệt khuẩn và phải rửa hậu môn trước.

+ Cho bệnh nhân đi ngoài vào bô dẹt (không lẫn nước tiểu).

+ Dùng que lấy phân (10-15g) ngay chỗ giữa bãi phân đều hoặc nghi ngờ, cho phân vào lọ đậy kín lại. Lấy phân nơi có đờm, máu, mủ trong bệnh lỵ amib.

- Chú ý:

+ Ðối với amib: khi trời lạnh phải giữ lọ phân ấm, gửi lên ngay phòng xét nghiệm.

+ Dùng tăm bông cho vào hậu môn ngoáy rồi phết lên kính nếu cần tìm giun kim, trứng giun.

- Những điểm cần lưu ý:

+ Trường hợp tìm máu trong phân, bệnh nhân phải kiêng ăn thịt nạc hoặc không uống thuốc có chất sắt, bismuth trong vòng 48 giờ.

Lưu ý không nhầm lẫn máu từ bộ phận sinh dục.

+ Không lấy phân lẫn với nước tiểu.

c) Mủ

- Mục đích: Tìm các vi khuẩn gây mủ để trị bệnh. Làm kháng sinh đồ.

- ÁP DỤNG trong các vết thương có mủ như áp xe vỡ hoặc chưa vỡ, lỗ rò....

- Kỹ thuật:

Vết thương hở:

- Phương pháp phết lên kính:

+ Mở vết thương.

+ Dùng tăm bông vô khuẩn lấy ít mủ, phết lên giữa phiến kính, để khô, đặt một phiến kính khác lên trên. Ðể khô tự nhiên hoặc hơ lên lửa nhưng không hơ nóng quá làm hỏng bệnh phẩm.

+ Dán nhãn vào mẫu, gửi ngay lên phòng xét nghiệm:

+ Rửa và băng vết thương lại.

Phương pháp bỏ vào ống nghiệm:

+ Mở nắp ống nghiệm, hơ miệng ống nghiệm trên lửa (đèn cồn).

+ Dùng bơm tiêm hút mủ cho vào ống hoặc cán bộ y học dùng tăm bông lấy mủ cho vào ống nghiệm. Bẻ bỏ đầu que đã cầm ở tay.

+ Hơ miệng ống lại lần thứ hai, đốt viên bông đút ống rồi đậy lại.

Trường hợp ổ mủ chưa vỡ: Sát khuẩn da của bọc mủ, đâm kim vào hút mủ, bơm mủ vào ống nghiệm hoặc phết lên phiến kính. Trường hợp mủ ít: đậy đầu kim, giữ nguyên bơm tiêm, gửi ngay lên phòng xét nghiệm. Việc đâm kirn vào bọc mủ do bác sĩ thực hiện.

+ Rửa tất cả các dụng cụ vòi nước và xà phòng thật sạch, lau khô rồi gửi đi tiệt khuẩn.

e) Ghi hồ sơ

- Ngày giờ lấy bệnh phẩm.

- Chất thử.

- Loại thuốc đã sử dụng (nếu có).

- Tên cán bộ y học viên thực hiện.

2.3 Cách lấy nước tiểu xét nghiệm: 

2.3.1 Chuẩn bị dụng cụ:

- 1 khay thông tiểu như trong bài thông tiểu.

- ỐNG NGHIỆM vô khuẩn nếu thử nghiệm vế vi khuẩn.

- Bình chứa nước tiểu có vạch đo thể tích.

- Ðèn cồn.

- Vải cao su (tấm nylon).

- Bình phong.

2.3.2 Tiến hành:

Có nhiều cách:

a) Kiểm tra nước tiểu về số lượng, màu sắc trong 4 giờ:

Khoảng 8h sáng cho bệnh nhân đi tiểu để lấy hết nước ở bàng quang, xong đổ nước tiểu ấy đi, lấy bình nước tiểu sạch, ghi tên bệnh nhân, số giường. Cho bệnh nhân chứa tất cả các nước tiểu ngày hôm đó trong bình. Ðến 8h sáng hôm sau báo bệnh nhân đi tiểu lần cuối vào bình. Sau đó đo số lượng nước tiểu 24 giờ. Ghi vào hô sơ.

- Cần dặn bệnh nhân hứng nước tiểu mỗi khi đi tiểu.

- Blnh nước tiểu đậy kín để chỗ mát.

- Tránh cho nước tiểu phân hủy, dùng các dung dịch:

+ Cho thymol trong rượu 1% 1ml/100ml nước tiểu.

+ 1 giọt phenol trong 30ml nước tiểu.

b) Kiểm tra tế bào và ký sinh trùng.

- Rửa bộ phận sinh dục ngoài bằng xà phòng nước hoặc thuốc sát khuẩn và nước chín.

- Bệnh nhân đi tiểu, bỏ phần nước tiểu đầu. Lấy phần giữa cho vào ống nghiệm. Nên lấy vào buổi sớm.

- Gửi ngay lên phòng xét nghiệm: để tránh amoniac trong nước tiểu trở thành kiềm làm hủy hoại tế bào. 

c) Tìm vi khuẩn:

Nữ: thông tiểu, thủ thuật phải được thực hiện đúng kỹ thuật để đảm bảo vô khuẩn tuyệt đối.

Nam:

+ Sát khuẩn quy đầu, đầu niệu đạo, rửa lại bằng nước vô khuẩn.

+ Bỏ nước tiểu đầu, lấy phần giữa.

+ Cho nước tiểu vào ống nghiệm vô khuẩn.

Nhớ hơ miệng ống nghiệm trước và sau khi lấy nước tiểu trên ngọn lửa đèn cồn.

- Trẻ em gái sơ sinh:

+ Rửa kỹ bộ phận sinh dục.

+ Ðắp lên âm hộ một lớp bông thấm nước vô khuẩn.

+ Sau khi trẻ tiểu xong, vắt bông lấy nước tiểu.

- Trẻ em trai:

+ Rửa bộ phận sinh dục ngoài.

+ Ðể dương vật trẻ vào ống nghiệm vô khuẩn, cố định bằng băng dính.

d) Lấy nước tiểu theo giờ.

Tùy theo chỉ định, thường áp dụng cho bệnh nhân đái tháo đường.

Có thể lấy nước tiểu từ 6-12h; 12-18h; 18-24h; 24-6h.

Lấy tất cả nước tiểu bệnh nhân đi tiểu hoặc:

- Từ trước bữa ăn sáng đến bữa ăn trưa.

- Từ trước bữa ăn trưa đến trước bữa ăn tối.

- Từ trước bữa ăn tối đến 24h.

- Từ 24h đến trước bữa ăn sáng.

Chứa nước tiểu trong một bình riêng lắc đều, lấy 50ml nước tiểu gửi ngay lên phòng xét nghiệm.

Lấy nước tiểu 1 giờ hoặc 2 giờ trong trường hợp:

- Bệnh nhân bị nhiễm acid.

- Bệnh nhân hôn mê (Tìm đường và aceton)

Lưu ý:

- Lấy nước tiểu trước khi ăn.

- Lấy nước tiểu khi tiêm Insulin.

2.3.3 Dọn dẹp và bảo quản dụng cụ:

- Rửa sạch tất cả dụng cụ với xà phòng và nước.

- Lau khô và gửi đi tiệt khuẩn.

2.3.4 Ghi hổ sơ:

- Ngày giờ lấy bệnh phẩm.

- Loại xét nghiệm.

- Tên cán bộ y học viên thực hiện



 

Mục lục

YKHOANET - Website Y Khoa Việt Nam

 



 

ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN


 

 

Bài 18: CHO BỆNH NHÂN DÙNG THUỐC

1. Ðại Cương

Cho bệnh nhân dùng thuốc là một phần trong công tác điều trị. Vì vậy khi thực hiện cho thuốc bệnh nhân phải nhận thức rõ trách nhiệm và phải chú ý các điểm quan trọng để tránh sự nhầm lẫn và những hậu quả tai hại. Thuốc vào cơ thể bệnh nhân qua nhiều đường: uống, tiêm, ngoài da, niêm mạc....

2. Những yêu cầu cần thiết trong việc dùng thuốc

Người cán bộ y học phải thực hiện nghiêm chỉnh, sáng suốt y lệnh của thầy thuốc.

2.1 Người cán bộ y học hiểu rõ những nét cơ bản về thuốc: 

2.I.1. Công dụng của thuốc

- Chống nhiễm khuẩn: như các loại kháng sinh, sulfamid.

- Phòng bệnh: vaccin, huyết thanh.

- Chẩn đoán bệnh: BCG test.

- Giảm triệu chứng: giảm đau, giảm ho, giảm sốt.

- Thuốc tác dụng toàn thân hay tại chỗ.

2.1.2. Tính chất của thuốc:

- Thuốc chỉ được dùng theo một đường nhất định: có những thuốc chỉ tiêm bắp, mông sâu như thuốc dầu, thuốc sữa...

- Có một số bệnh của bệnh nhân cần thận trọng khi dùng thuốc như loét dạ dày tá tràng không uống vitamin mà tiêm, hoặc không uống APC mà thay bằng sê đa... uống prednison khi đã ăn no.

2.1.3. Yếu tố hấp thụ và bài tiết:

Tùy theo dược tính và liều lượng dùng thuốc, thuốc hấp thụ nhanh hay chậm.

Ví dụ:

- Kháng sinh bài tiết hết sau 6 giờ nên 6 giờ bệnh nhân uống hoặc tiêm 1 lần.

- Thuốc ngủ tác dụng sau 15 đến 30 phút, kéo dài 6 đến 8 tiếng.

- Những thuốc bị dịch vị phá hủy thì chỉ tiêm truyền.

2.1.4. Dạng thuốc:

- Thuốc viên: viên nén bọc đường, viên nhộng.

- Thuốc nước: ống thuốc, thuốc giọt, theo mililit 

2.1.5. Liều dùng: Tùy theo cân nặng, tuổi, tình trạng bệnh, đường dùng thuốc.

2.1.6. Quy chế về thuốc độc.

- Nhãn thuốc: độc A và giảm độc A màu đen. Ðộc B và giảm độc B màu đỏ.

- Hàm lượng: Số lượng thuốc có trong thành phần.

- Liều lượng: Số lượng thuốc dùng cho bệnh nhân để chữa khỏi mà không gây tác hại.

2.1.7. Cách bảo quản:

- Ðể nơi khô ráo, thoáng mát.

- Những thuốc dùng dở phải đậy nút kín, bảo quản tốt, tránh hư hao nhiễm khuẩn như xi rô kháng sinh (để tủ lạnh) huyết thanh đã dùng dở chỉ để được trong 24 giờ.

2.2 Một số điều cần thiết khi cho bệnh nhân dùng thuốc: 

2.2.1. Tác phong làm việc phải chính xác, khoa học và có trách nhiệm.

2.2.2. Trung thành với chỉ định của bác sĩ, nếu nghi ngờ phải hỏi lại.

2.2.3. Tuyệt đối không được thay đổi y lệnh.

2.2.4. Sắp xếp thuốc theo thứ tự, dễ tìm, tránh nhầm lẫn.

2.2.5. Thuốc độc A, B phải để ngăn riêng có khóa.

2.2.6. Thuốc dùng ngoài da để xa thuốc uống.

2.2. 7. Kiểm tra thuốc hàng ngày nếu có thuốc kém chất lượng phải đổi ngay ở KHOA dược.

2.2.8 Kiểm kê bàn giao thuốc cẩn thận sau MỖI CA.

3. NGUY? TắC CHUNG KHI CHO BệNH NHÂN DùNG THUốC. 

3.1 Ðảm bảo an toàn tính mạng cho người dùng thuốc.

3.2 Thực hiện 3 kiểm tra, 5 đối chiếu.

3.3 Phải tập trung tư tưởng cho việc dùng thuốc, sao chép y lệnh phải thật chính xác tránh nhầm lẫn.

4. Các đường dùng thuốc

4.1. Ðường uống:

Cho bệnh nhân uống thuốc thường áp dụng cho tất cả các bệnh nhân có thể uống được và uống các loại thuốc không bị dịch tiêu hóa phá hủy.

- Không áp dụng cho bệnh nhân mê man, nôn mửa liên tục, bệnh nhân bị bệnh ở thực quản và bệnh nhân bị tâm thần không chịu uống.

4.1.1. Chuẩn bị dụng cụ

- Thuốc theo chỉ định: thuốc viên, thuốc nước hay thuốc nhỏ giọt.

- Cốc đựng thuốc.

- Cốc đựng nước uống.

- Bình đựng nước uống.

- Các dụng cụ đo lường: Cốc chia độ, thìa canh, thìa cà phê, ống đếm giọt.

- Dao cưa (để cưa ống thuốc )

- Phiếu cho thuốc.

- Vài miếng gạc sạch.

- Dụng cụ để tán thuốc viên.

- Túi giấy hay khay quả đậu.

4.1.2 Tiến hành

a) Lấy thuốc viên:

- Tay phải cầm lọ đựng thuốc viên, tay trái mở nắp lọ thuốc hoặc cốc đựng thuốc đổ thuốc vào cốc đếm đủ số lượng cần lấy (không được dùng tay để bốc thuốc) (H. 70).

Hình 70. Cách lấy thuốc viên.

b) Lấy thuốc nước.

Tay phải cầm chai thuốc lắc nhẹ cho thuốc trộn đều, tay trái mở nắp chai và ngửa nắp chai thuốc lên trên mặt bàn, cầm cốc đựng thuốc đưa ngang với tầm mắt, đầu ngón cái ngang mức thuốc cần lấy. Ðể nhãn của chai thuốc lên trên và rót thuốc không để miệng chai thuốc chạm vào miệng cốc (H.71).

Lấy đủ số lượng thuốc, lau sạch miệng chai thuốc bằng miếng gạc sạch và đậy nắp chai lại, để chai thuốc về chỗ cũ.

Hình 71. Cách rót thuốc nước.

c) Lấy thuốc giọt:

Cho một ít nước đun sôi để nguội vào cốc để làm loãng thuốc. Tay phải cầm thẳng ống hút đưa đầu ống hút vào lọ thuốc và hút thuốc, nhỏ từng giọt cẩn thận vào cốc đếm giọt theo chỉ định.

4.1.3 Quy trình kỹ thuật.

- Ðiều dưỡng viên rửa sạch tay, xem lại chỉ định điều trị và phiếu cho thuốc cùng với cán bộ y học để tránh nhầm lẫn (áp dụng 3 kiểm tra, 5 đối chiếu trong suốt thời gian bệnh nhân dùng thuốc).

- Sau đó kiểm tra nhãn thuốc lần thứ nhất và lấy thuốc.

Phải đối chiếu kỹ nhãn thuốc trên chai thuốc, lọ thuốc cùng với lệnh điều trị.

Hình 74. Ðọc nhãn thuốc lần thứ hai.

Hình 75. Ðặt thuốc đã lấy theo phiếu điều trị vào khay.

Trước khi lấy thuốc phải kiểm tra nhãn thuốc lại lần nữa. Rồi đặt thuốc đã lấy vào khay kèm theo phiếu điều trị, mang khay thuốc và nước đến giường bệnh nhân. Hỏi đúng họ tên bệnh nhân, số giường, số buồng hoặc số đeo tay khi vào viện.

- Ðộng viên và giải thích để bệnh nhân an tâm và chịu uống thuốc.

- Ðồng thời giúp đỡ bệnh nhân ngồi dậy hoặc nằm tư thế đầu cao để bệnh nhân dễ uống và dễ nuốt.

- Ðưa nước và thuốc cho bệnh nhân uống, khi uống xong lau miệng cho bệnh nhân và để bệnh nhân nằm lại theo tư thế thuận lợi.

- Trường hợp nếu là trẻ em phải động viên, thuyết phục làm cho trẻ tự giác uống thuốc là tốt nhất. Nếu trẻ thích người nhà cho uống như bố mẹ thì phải hướng dẫn, giúp đỡ họ thực hiện.

Nếu trẻ quá nhỏ không tự uống được thì cán bộ y học viên phải hoà tan thuốc thành dạng nước (có thể thêm một ít đường để trẻ dễ uống). Rồi cán bộ y học bế trẻ nằm ngửa, đầu trẻ hơi cao và áp sát vào người. Sau đó dùng thìa cà phê lấy thuốc đặt sát miệng trẻ ở giữa hoặc phía cạnh má đổ từ từ thuốc vào cho trẻ uống, và tráng lại bằng ít nước sôi để nguội, lau miệng cho khô.

- Cách cho bệnh nhân uống các thuốc đặc biệt:

+ Digitalin phải đếm mạch trước khi cho uống.

+ Uống Aspirin phải uống lúc no, không uống chung với loại thuốc có chất kiềm

+ Các loại thuốc ho không được pha loãng.

+ Các loại thuốc có tính acid làm hại men răng cần pha loãng và cho bệnh nhân uống qua ống hút.

+ Mùi vị của một số thuốc có thể làm cho bệnh nhân nôn, nên cho bệnh nhân ngậm nước đá trước khi uống vài phút.

+ Thuốc dầu, sau khi uống xong nên cho bệnh nhân uống nước chanh hay nước cam.

- Thu dọn tất cả dụng cụ rửa sạch và lau khô, chuẩn bị những dụng cụ cần thiết để đem tiệt khuẩn như cốc thuốc, cốc nước và thìa, v.v..

- Trả phiếu thuốc vào chỗ cũ hay để vào ô giỏ cho thuốc lần sau.

- Ghi vào hồ sơ: ngày giờ cho bệnh nhân uống thuốc, tên thuốc, số lượng và cách cho uống, phản ứng của thuốc (nếu có) với những trường hợp không thực hiện được như: bệnh nhân vắng mặt, nôn, từ chối không uống.

- Ghi rõ họ tên người thực hiện cho thuốc bệnh nhân.

4.2. Ðường tiêm

- Tiêm trong da

- Tiêm dưới da

- Tiêm bắp thịt

- Tiêm tĩnh mạch

4.2.1 Tầm quan trọng của việc tiêm thuốc

Tiêm thuốc cho bệnh nhân là đưa những thuốc dưới dạng dung dịch hoà tan trong nước hay trong dầu, hoặc dưới dạng hỗn hợp vào trong da, dưới da, bắp thịt, tĩnh mạch (loại trừ dầu).

Tiêm thuốc là để đưa thuốc trực tiếp vào cơ thể tác dụng nhanh hơn uống.

Thường tiêm thuốc cho bệnh nhân trong những trường hợp sau:

- Cấp cứu cần có hiệu quả nhanh.

- Không uống được hoặc không nuốt được.

- Thuốc dễ bị phá hủy và biến chất bởi dịch tiêu hóa.

4.2.2 Giới thiệu bơm tiêm - kim tiêm và một số dạng thuốc tiêm.

a) Bơm tiêm vô khuẩn:

Bơm tiêm có nhiều loại, nhiều cỡ, lớn bé khác nhau tuỳ theo lượng thuốc để tiêm. Thông thường có các loại bơm tiêm 2ml, 5ml, 10ml... Người ta còn dùng loại bơm tiêm đặc biệt bé và dài, có ghi vạch nhỏ từng 1/10ml hoặc 2/10ml để tiêm phòng bệnh hoặc để thử phản ứng...

Ðối với những lượng thuốc lớn, người ta dùng các loại bơm tiêm 20ml, 50ml, 100ml.

Ðầu bơm tiêm (ambu)

Vỏ bơm

Ruột bơm

Hình 78-79/158

Hình 80/159

Mỗi bơm tiêm có hai bộ phận chính là: - Vỏ bơm tiêm (bộ phận chứa thuốc) - Ruột bơm tiêm (để hút và bơm thuốc).

Ngoài vỏ bơm tiêm có ghi vạch mililít, ở phía đầu có núm nhỏ để lắp vừa khít kim gọi là ambu. Bơm tiêm thường được làm bằng thuỷ tinh chịu nhiệt để nhìn thấy thuốc cho rõ ràng.

Có loại bơm tiêm bằng nhựa chỉ dùng một lần.

b) Kim tiêm.

Kim tiêm thường làm bằng thép không gỉ có nhiều cỡ tùy theo thuốc và vị trí tiêm. Kim rỗng ở giữa, đầu vát và nhọn. Ðốc kim thường ghi số từ 12-24, chiều dài của kim thường từ 1,5-6cm.

c) Thuốc tiêm

Các thứ thuốc tiêm phải đóng trong lọ vô khuẩn trình bày dưới các hình thức:

- ỐNG thuốc pha sẵn to nhỏ tùy loại: 1ml, 2ml, 3ml, 5ml, 10ml. Thường gọi là ống đơn.

- ỐNG (lọ) thuốc bột khi tiêm mới pha gọi là ống kép (có kèm ống nước pha)

- Lọ thuốc to 200-500 ml khi tiêm mới rút rút lượng thuốc ra theo chỉ định.

d) Các dụng cụ cần thiết khác để tiêm.

- Kẹp Kocher có mấu để gắn dụng cụ vô khuẩn

- Kẹp Kocher không mấu để gắp bông sát khuẩn

- Thuốc sát khuẩn: Cồn 70? - cồn iod 1%.

- Cốc hoặc bát đựng bông cồn

- Dây garô để tiêm tĩnh mạch và trong da

- Hộp đựng thuốc cấp cứu phòng tai biến

- Khay men chữ nhật vô khuẩn để bơm và kim tiêm vô khuẩn

- Khăn vải vô khuẩn để trải lên khay vô khuẩn

- Khay quả đậu hoặc túi giấy đựng bông bẩn và vỏ thuốc

- Hộp nhỏ đựng kim bẩn

- Hộp nhôm chữ nhật đựng bơm và kim tiêm đem tiệt khuẩn

- Dao cưa để cưa ống thuốc

- Phiếu điều trị hoặc đơn thuốc

4.2.3.Chuẩn bị bệnh nhân

Trước khi tiêm thuốc cho bệnh nhân phải báo và giải thích cho bệnh nhân.

Hỏi xem bệnh nhân có bị phản ứng loại thuốc nào không?

Cho bệnh nhân nằm hoặc ngồi theo tư thế thích hợp, để lộ vùng tiêm.

4.2.4. Thực hiện chế độ kiểm tra

Trước khi tiêm thuốc cho bệnh nhân phải thực hiện "3 kiểm tra - 5 đối chiếu". Cụ thể là:

- 3 kiểm tra:

1. Họ tên bệnh nhân

2. Tên thuốc

3. Liều lượng thuốc

- 5 đối chiếu:

1. Số giường, buồng

2. Nhãn thuốc

3. Chất lượng thuốc hiện tại

4. Ðường dùng thuốc (Ðường tiêm)

5. Thời gian dùng thuốc

4.2.5. Cách rút thuốc

a) Cách rút từ ống thuốc:

Một tay cầm ống thuốc, tay phải cầm dao cưa đặt ở phía gần sát đầu của ống thuốc (nếu là ống đầu nhọn) hoặc đặt ở phần thắt nghẽn (nếu là ống đầu rụt) rồi đưa đi đưa lại 2-3 lần. Sau đó lấy miếng băng tẩm cồn sát khuẩn chỗ cưa và lấy miếng gạc khô bẻ đầu ống thuốc.

b) Lấy thuốc bột trong lọ:

Hình 82./trang 161

- Dùng kẹp Kocher nậy phần trên nút lọ.

- Lấy bông tẩm cồn sát khuẩn nút lọ, rồi hút nước cất vừa đủ để pha (cách hút như phần lấy ở ống thuốc).

- Khi đâm kim vào lọ thuốc bột: tay trái giữ lọ thuốc, tay phải cầm bơm kim tiêm hút nước cất sẵn để kim vào giữa tâm của nút lọ đâm nhẹ nhàng qua nút vào trong lọ, bơm nước cấtvào trong lọ thuốc bột.

- Rút kim ra, lặc đều cho thuốc tan hết sau đó hút một lượng không khí vào bơm tiêm tương đương với số lượng thuốc cần lấy, tiếp tục đâm kim qua nút vào lọ thuốc, bơm không khí vào rồi dốc ngược lọ thuốc, rút từ từ đủ số lượng vào bơm tiêm.

Hình 83-84 / trang 161

4.2.6. Ðẩy không khí

Phải đẩy hết bọt khí và không khí ra khỏi bơm tiêm trước khi tiêm cho bệnh nhân bằng cách để thẳng đứng bơm tiêm ngang với tầm nhìn, nhẹ nhàng đẩy cho hết khí ở trong bơm tiêm ra ngoài.

Hình 85/trang 162

4.2.7. Sát khuẩn vị trí tiêm

Vùng tiêm phải được sát khuẩn từ trong ra ngoài theo chiều xoáy ốc rộng 5 cm và chờ khô mới được tiêm.

4.2.8. Quy trình kỹ thuật tiêm

1 - Ðeo khẩu trang, rửa tay

2 - Xem y lệnh điều trị và phiếu cho thuốc (thực hiện 3 kiểm tra 5 đối chiếu)

3 - Chọn bơm tiêm thích hợp, kiểm tra kim sau đó để vào khay vô khuẩn.

4 - Kiểm tra thuốc, sát khuẩn ống thuốc và dao cưa ống thuốc, bẻ ống thuốc.

5 - Lắp bơm kim tiêm (kim lấy thuốc).

6 - Hút thuốc vào bơm tiêm (Xem phần 4.2.5)

7 - Thay kim, kiểm tra kim, đẩy không khí (Ðể mũi vát của kim theo chiều số mililit trên thân bơm tiêm).

8 - Ðặt bơm tiêm vào khay vô khuẩn và đậy khăn vô khuẩn lại.

9 - Mang khay đến bên giường bệnh nhân.

10 - Báo và giải thích cho bệnh nhân biết việc sắp làm.

11 - Ðặt bệnh nhân nằm ở tư thế thích hợp

12 - Sát khuẩn vị trí tiêm từ trong ra ngoài

13 - Ðiều dưỡng viên sát khuẩn đầu ngón tay

14 - Tiến hành tiêm thuốc cho bệnh nhân theo nguyên tắc 2 nhanh 1 chậm:

+ 2 nhanh: + Ðâm kim nhanh

+ Rút kim nhanh

+ 1 chậm: + Bơm thuốc chậm

15 - Bơm hết thuốc rút kim nhanh rồi sát khuẩn lại vị trí tiêm

16 - Giúp bệnh nhân nằm lại tư thế thoải mái

17 - Thu gọn dụng cụ

18 - Ghi vào hồ sơ những trường hợp đặc biệt (Thí dụ như: Phản ứng thuốc).

Hình 86/trang 163

4.2.9. Tiêm trong da

Tiêm trong da là tiêm thuốc vào dưới lớp thượng bì. Thuốc được hấp thụ rất chậm.

a) ÁP dụng: Tiêm trong da được áp dụng với các trường hợp sau đây:

- Tiêm thuốc BCG để phòng lao

- Tìm phản ứng BCG để chẩn đoán lao

- Thử phản ứng của cơ thể đối với thuốc, ví dụ như phản ứng penicilin.

- Tiêm một số vacin phòng bệnh.

b) Vùng tiêm:

Nói chung để chọn chỗ tiêm trong da thì nhiều, nhưng thường tiêm vào giữa mặt gấp cẳng tay khoảng 1/3 trên trước và trong cẳng tay. Vì chỗ đó da mỏng dễ tiêm, da lại có màu nhạt dễ phân biệt. Nếu có phản ứng cục bộ cũng dễ nhận thấy. Có thể tiêm chỗ bả vai, cơ tam giác cánh tay (để tiêm phòng dịch).

c) Dụng cụ:

Ngoài những dụng cụ cần thiết đã chuẩn bị theo quy trình ta cần chú ý chọn bơm và kim tiêm thích hợp với tiêm trong da.

- Bơm tiêm loại 1ml, độ khắc tỉ mỉ (1/100 đến 2/100) để có thể tính liều nhỏ được chính xác.

- Kim tiêm rất nhỏ, dài 1,5cm đường kính 4/10 đến 6/10 mm, đầu mũi vát ngắn để dễ ngập trong biểu bì.

d) Bệnh nhân:

- Ðối với người lớn: kéo ống tay áo lên cao và đặt cẳng tay lên trên một gối nhỏ.

- Ðối với trẻ em: người mẹ ngồi trên ghế ôm trẻ trong lòng, dùng hai đùi để cặp hai chân trẻ, một tay vòng ôm qua thân và giữ cánh tay trẻ, tay khác giữ lấy tay định tiêm đặt lên trên gối nhỏ ở góc bàn.

e) Kỹ thuật tiêm trong da:

Phải tiến hành theo quy trình và kỹ thuật tiêm trong da.

- Tay trái đỡ mặt sau cẳng tay hoặc cánh tay bệnh nhân căng da nơi sắp tiêm.

- Tay phải cầm bơm và kim để mũi vát của kim ngửa lên trên và khẽ gẩy mũi kim vào mặt da. Khi mũi kim đã bén vào da thì hạ bơm tiêm xuống sát mặt da (10-15? ) rồi đẩy nhẹ mũi kim cho ngập hết đầu vát.

- Khi mũi kim đã ngập hết chỗ vát thì ngón cái tay trái từ từ chuyển ra chỗ đốc kim và tay phải dùng ngón cái đẩy thuốc vào.

- Khi bơm thuốc vào thì phải theo dõi xem thuốc có vào đúng trong da không bằng hai cách:

+ Nhìn vết tiêm chỗ thuốc vào bao giờ cũng nổi phồng da cam bằng hạt ngô, màu da chỗ tiêm đang hống ngả sang trắng bạch (bơm chừng 1/10 ml).

+ Tự mình thấy đẩy thuốc vào rất chặt tay và có cảm giác như kim bị tắc.

- Sau khi đã bơm thuốc đủ liều (ml) rút kim và căng da chỗ tiêm vài giây cho thuốc khỏi trào ra theo kim rồi sát khuẩn bằng bông tẩm cồn.

Nếu là thử phản ứng thì phải thử thêm một mũi làm chứng bằng nước cất hoặc dung dịch NaCl không sát khuẩn lại, lấy bút vẽ vòng tròn quanh chỗ tiêm đường kính rộng 1cm để đánh dấu theo dõi. Dặn bệnh nhân nếu có bất thường khó chịu trong người hoặc ngứa tì không được gãi mà phải báo ngay. 10-15 phút sau đọc kết quả. Nếu thấy mảng đỏ đường kính rộng hơn 1cm là phản ứng thuốc - không tiêm được mà báo bác sĩ ngay. Phải ghi rõ vào hồ sơ hoặc phiếu tiêm thuốc của bệnh nhân.

- Trường hợp có nghi ngờ thì thử lại bằng nước cất với tay kia để đối chứng so sánh.

Bảng đối chứng

Thuốc

Nước cất

Kết quả

Ðỏ

Không đỏ

Ðỏ ít

Không đỏ

Không đỏ

Ðỏ ít

Không tiêm được

Tiêm được

Tiêm được

 

Loại

Lần 1

Lần 2

Lần 3

Lần 4

200.000đv

Pha 2ml nước cất

Rút 1/10ml thuốc dung dịch 1

Pha với 1 ml nước cất

Rút 1/10ml thuốc dung dịch 2

Pha với 1 ml nước cất

Rút 1/10ml thuốc dung dịch 3

Pha với 1 ml nước cất

Dung dịch 4 tiêm cho 10 người mỗi người được 1/10ml = 10 đơn vị Penicilin

500.000đv

Pha 5ml nước cất

Pha với 1 ml nước cất

Pha với 1 ml nước cất

Pha với 1 ml nước cất

1.000.000đv

Pha 10ml nước cất

Pha với 1 ml nước cất

Pha với 1 ml nước cất

Pha với 1 ml nước cất

g) Các biến cố do tiêm trong da:

1 - Bệnh nhân có thể bị phản ứng với thuốc cho nên:

- Thử phản ứng cho bệnh nhân tại phòng cấp cứu có thuốc và phương tiện cấp cứu sẵn.

- Chuẩn bị sẵn hộp phòng chống sốc.

2 - Bệnh nhân có thể bị mẩn ngứa hoặc sốt.

3 - Nếu tiêm vaccin quá sâu hoặc quá liều quy định có thể gây nguy hiểm cho bệnh nhân.

4.2.10. Tiêm dưới da

Tiêm dưới da là đưa một lượng dung dịch thuốc vào mô liên kết lỏng lẻo dưới da. ÁP DỤNG KHÁ nhiều, khá rộng rãi trong các loại tiêm.

Hình 87/ trang 166

a) Vùng tiêm:

Tất cả những chỗ nào trên cơ thể không nhạy cảm quá có nhiều cơ đều tiêm được vì dưới da còn xa xương và xa các mạch máu, thần kinh, thường chọn chỗ để tiêm: ở mô dưới da nhẽo, ít cọ xát, ít bị nhiễm bẩn, ít đau, không có sẹo, viêm, lở loét, v.v.. Thường tiêm vào:

- Mặt ngoài cánh tay, vào chỗ gần tận cùng cuả cơ tam giác cánh tay hoặc phía trên cánh tay. Có thể tiêm vùng mặt ngoài đùi hoặc vùng bả vai, v.v..

- Nếu người bênh tiêm nhiều cần phải thay đổi chỗ tiêm và cố gắng tránh tiêm vào mũi tiêm cũ.

b) Dụng cụ:

- Bơm tiêm 5ml vô khuẩn.

- Kim tiêm dài 25-30 mm. Mũi vát dài và sắc.

- Thuốc dùng đúng theo y lênh.

c) Chuẩn bị bệnh nhân:

Giải thích và động viên cho bệnh nhân yên tâm, báo cho bệnh nhân biết thuốc được tiêm đồng thời hướng dẫn và giúp đỡ bệnh nhân nằm hoặc ngồi theo tư thế đúng để tiêm dễ dàng.

d) Kỹ thuật tiêm dưới da: Tiến hành theo quy trình và kỹ thuật tiêm dưới da là:

* Phương pháp véo da:

Tay trái dùng ngón trở và ngón cái kéo da bệnh nhân lên nơi gần tiêm. Tay phải cầm bơm tiêm đã lắp kim và để ngửa mũi vát của kim lên trên, đâm kim vuông góc với đáy da véo vào da và mô dưới da. Khi có cảm giác là kim đã vào mô liên kết. Sau đó tay trái buông khỏi da, rút thử nòng bơm tiêm vài lần xem có máu ra hay không? Nếu không có máu ra mới được từ từ bơm thuốc vào cơ thể bệnh nhân. Nếu có máu theo (chạm vào mạch máu) thì bình tĩnh rút kim ra hoặc đâm kim sâu vào khi nào không có máu ra nữa thì bơm thuốc từ từ:

- Khi đã bơm hết thuốc, tay trái chuyển lên căng da chỗ tiêm, tay phải nhẹ nhàng rút kim ra nhanh rồi lấy bông tẩm cồn đặt lên chỗ vừa tiêm để sát khuẩn lại.

* Phương pháp căng da:

- Tay trái căng da, tay phải đâm kim tạo với mặt da một góc từ 20-30? . Sau khi tiêm chỗ tiêm phồng lên (như quả táo ta) là đúng kỹ thuật.

Sau đó đỡ bệnh nhân nằm lại thoải mái và thu dọn dụng cụ.

e) Các biến cố do tiêm dưới da:

1 - Các sai lầm về nguyên tắc vô khuẩn: Do không đảm bảo nguyên tắc vô khuẩn trước và sau khi tiêm đưa tới bệnh nhân bị nhiễm khuẩn gây ra ápxe tại chỗ hoặc lây bệnh truyền nhiễm như viêm gan virut.

2 - Sai lầm về kỹ thuật: Quằn kim hoặc gẫy kim do bệnh nhân giãy giụa mạnh hoặc do tiêm không đúng kỹ thuật. Bệnh nhân có thể bị sốc do bơm thuốc quá nhanh hoặc bệnh nhân đau do quá sợ hãi.

3 - Các biến cố do thuốc gây nên: Do thuốc tiêm vào không tiêu đi hoặc tiêu rất chậm làm bệnh nhân đau thậm chí còn tạo thành một ápxe vô khuẩn hoặc gây ra mảng mục ở trẻ em như tiêm insulin, muối bismut, muối quinin và các chất dầu nói chung, sốc do các hiện tượng phản ứng toàn thân gây nên.

4.2.11. Tiêm bắp thịt

Tiêm bắp thịt là đưa một liều lượng thuốc vào trong bắp thịt (trong cơ)

Hình 88/167

a) ÁP DỤNG:

Người ta có thể tiêm vào bắp thịt nhiều loại dung dịch đẳng trương khác nhau như:

1 - Thuốc ăn mòn và dễ kích thích: ?e, quinin.

2 - Thuốc gây đau: Thuốc dầu, thuốc sữa.

3 - Thuốc chậm tan: Keo, muối bạc, muối thuỷ ngân, kháng sinh, hormon...

4 - Thuốc có khối lượng lớn

Về nguyên tắc, tất cả các loại thuốc tiêm vào mô liên kết dưới da đều có thể tiêm vào trong bắp thịtk được.

Tiêm bắp thịt: Cơ được tưới máu nhiều và luôn luôn chuyển động nên sự hấp thụ thuốc của bắp thịt nhanh hơn mô liên kết lỏng lẻo dưới da và cảm giác không nhạy bằng mô dưới da; nên có thể tiêm vào bắp thịt những thứ thuốc kích thích mạnh hơn như penicilin, streptomycin, quinin, emetin... Hơn nữa cơ có sức chịu đựng với các dung dịch ăn mòn nên không bị hoại tử.

b) Dụng cụ:

- Lọ cồn iod 1%

- Bơm tiêm 5-10 ml vô khuẩn.

- Kim tiêm dài 40-80 mm, đường kính 0,7-1 mm, mũi vát dài, sắc và nhọn.

c) Vùng tiêm:

Thường tiêm vào 3 vùng sau đây:

* Vùng cánh tay:

- Cơ đenta (delta): Tiêm vào 1/3 trên trước ngoài đường nối từ mỏm vai tới lồi cầu ngoài.

- Cơ tam giác mặt ngoài cánh tay: Tiêm vào 1/3 giữa mặt trước ngoài cánh tay

Hình 89a-89b/168

* Vùng đùi: Cơ tứ đầu đùi là vùng rộng lớn cơ to và dày ít mạch máu và dây thần kinh. Tiêm vào 1/3 giữa mặt trước ngoài đùi trên đường nối từ gai chậu tới bờ ngoài xương bánh chè.

* Vùng mông:

Vùng mông do các mạch máu lớn và dây thần kinh hông to đi qua cho nên phải xác định vị trí tiêm thật chính xác để tránh tiêm nhầm vào thần kinh làm cho bệnh nhan thọt chân.

Cách 1:

Kẻ đường thẳng nối gai chậu trên đến mỏm xương cụt, chia làm ba phần bằng nhau, tiêm vào 1/3 ngoài đường thẳng này (H.90).

Cách 2:

Chia một bên hông thành 4 phần bằng nhau như hình 90, tiêm vào hình vuông bên ngoài (số 1 ) ( H.90 ).

* Ngoài ra có thể tiêm vào các vùng cơ khác có bắp cơ dày như: bả vai, vùng thắt lưng hoặc hai bên cột sống... (ở bệnh nhân bị bó bột hoặc bỏng).

Hình 90/169

d) Chuẩn bị bệnh nhân:

Giải thích và động viên bệnh nhân yên tâm, báo cho bệnh nhân biết thuốc được tiêm và hướng dẫn giúp đỡ bệnh nhân tạo tư thế để tiêm.

- Tiêm mông: Bệnh nhân nằm sấp chân bên tiêm co, chân kia duỗi hoặc ngồi trên ghế tựa mặt quay vào trong ghế hai tay tì vào lưng ghế, phần mông còn lại lộ ra tiêm là chắc chắn nhất.

- Tiêm ở đùi: Bệnh nhân nằm ngửa hoặc ngồi trên ghế duỗi chân thoải mái.

- Tiêm ở cánh tay: Bệnh nhân ngồi hoặc nằm thoải mái.

- Tiêm trẻ em phải có người giữ và cho đại tiểu tiện trước.

e) Kỹ thuật tiêm bắp:

Tiến hành theo quy trình và phần kỹ thuật tiêm bắp là:

* Tiêm vào đùi hoặc cánh tay.

Sát khuẩn vị trí tiêm bằng cồn 70? theo chiều xoáy ốc, tay trái căng da bệnh nhân nơi sắp tiêm, tay phải cầm bơm tiêm đã lắp sẵn kim để ngửa mũi vát của kim lên tiêm chếch 60? hoặc 90? so với mặt da (nếu trường hợp bệnh nhân là trẻ em hoặc người già bắp cơ gầy), không nên tiêm chếch 90? vì dễ chạm vào xương.

Ðâm kim nhanh qua da vào cơ ngập 2/ kim, tay trái buông khỏi da, rút thử ruột bơm tiêm xem có máu ra không, nếu không có máu bơm thuốc vào từ từ.

* Tiêm vào mông: Có 2 cách tiêm mông.

Cách tiêm mông 1 thì:

Sát khuẩn vị trí tiêm bằng cồn iod trước, sau đó sát khuẩn lại bằng cồn 70? .

Tay trái dùng ngón trỏ và ngón cái căng da bệnh nhân. Tay phải cầm bơm tiêm đã lắp sẵn kim tiêm. Ðâm thẳng vào mặt phẳng của da vào cơ, sâu vào khoảng 2/3 kim là được (chú ý nếu kim tiêm chạm vào xương thì phải rút ra một chút, và cũng không đâm nông quá chưa tới được cơ của bệnh nhân).

Sau đó tay trái buông khỏi da,rút thử ruột bơm tiêm xem có máu theo ra không, nếu không có máu bơm thuốc từ từ. Vừa bơm vừa phải theo dõi bệnh nhân.

Khi bơm hết thuốc, tay trái chuyển lên căng da bệnh nhân, tay phải rút kim tiêm ra nhanh đồng thời bỏ tay căng da ra. Sát khuẩn lại vị trí tiêm bằng bông tẩm cồn.

Cách tiêm mông 2 thì (ít làm):

+ Thì 1: Tay trái ngón trỏ và ngón cái căng da bệnh nhân cho phẳng, tay phải dùng ngón trỏ và ngón cái cầm chắc đốc kim còn 3 ngón khác gập lại lòng bàn tay, đâm kim nhanh thẳng góc 90? , sâu khoảng 2/3 kim là được (vào vùng được tiêm).

+ Thì 2: Lắp bơm tiêm đã có thuốc vào đốc kim, sau đó kéo ruột bơm tiêm ra, nếu không có máu theo ra thì mới bơm thuốc từ từ, và theo dõi sát bệnh nhân.

Khi hết thuốc căng da bệnh nhân và rút kim nhanh đồng thời bỏ tay căng da ra sát khuẩn lại vị trí tiêm bằng bông tẩm cồn.

g) Các tai biến do tiêm bắp thịt.

1 - Ðâm kim vào dây thần kinnh hông to (thần kinh toạ) do một trong các nguyên nhân sau:

- Xác định vị trí để tiêm sai

- Ðâm kim không đúng kỹ thuật

- Bệnh nhân nằm ngồi không đúng tư thế

2 - Tắc mạch: Do tiêm thuốc dầu hoặc thuốc sữa vào mạch máu.

3 - ÁPXE NHIỄM khuẩn hoặc ápxe vô khuẩn: Do không đảm bảo nguyên tắc vô khuẩn

4 - Gây mảng mục: Do tiêm những chất gây huỷ hoại mô (thuốc chống chỉ định tiêm vào bắp thịt).

5 - Gãy kim: Do bệnh nhân giãy giụa mạnh hoặc do tiêm không đúng kỹ thuật

6 - Bệnh nhân có thể sốc do bơm thuốc quá nhanh hoặc bệnh nhân đau do quá sợ hãi.

4.2.12. Tiêm tĩnh mạch

Tiêm tĩnh mạch là đưa một lượng thuốc vào cơ thể theo đường tĩnh mạch.

a) ÁP DỤNG:

- Những thuốc có tác dụng nhanh như thuốc gây tê, thuốc gây mê, thuốc xuất huyết v.v..

- Những thuốc có tác dụng toàn thân.

- Những thuốc ăn mòn các mô và có khả năng gây đau, thậm chí gây mảng mục (hoại tử) nếu như tiêm vào dưới da hoặc bắp thịt (như ouabain, thuỷ ngân cyanur, calci clorur...).

- Máu huyết tương và dung dịch keo

- Các huyết thanh trị liệu hoặc các dung dịch nhân tạo không có chí nhiệt tối ưu trương hoặc đẳng trương nếu tiêm truyền với khối lượng thuốc lớn.

- Natri salicylat.

- Những thuốc có màu hoặc nhuộm màu (đỏ Congo...)

Chú ý: Một số thuốc không được tiêm vào tĩnh mạch như adrenalin, thuốc dầu...

b) Chuẩn bị dụng cụ:

- Bơm tiêm 5-10 ml vô khuẩn

- Kim tiêm dài 25-30 mm, đường kính 6/10 - 8/10, mũi vát ngắn và sắc

- Dây garô

- Gối nhỏ kê dưới vùng tiêm

- Khay quả đậu đựng nước sạch, nước xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.

c) Chuẩn bị vùng tiêm:

Hình 91/172

Tĩnh mạch nào cũng có thể tiêm được, nhưng thường tiêm vào 2 tĩnh mạch lớn ở khuỷu tay chụm lại thành hình chữ V (trong hệ thống tính mạch M) ít di động, dễ tìm, dễ tiêm.

Ngoài tĩnh mạch khuỷu tay có thể tiêm vào tĩnh mạch cẳng tay, mu bàn tay, mu bàn chân, mắt cá trong. Hoặc khi cần thiết có thể tiêm vào tính mạch bẹn, hoặc tĩnh mạch dưới đòn, ở trẻ em có thể tiêm tĩnh mạch ở vùng đầu.

d) Chuẩn bị bệnh nhân:

Giải thích và động viên cho bệnh nhân yên tâm, không lo sợ, giúp đỡ bệnh nhân nằm thoải mái. Kéo ống tay áo bệnh nhân lên trên sát vai và đặt khuỷu tay bệnh nhân lên trên gối mỏng.

e) Kỹ thuật tiêm tĩnh mạch: Tiến hành theo quy trình và kỹ thuật tiêm tĩnh mạch:

1 - Buộc dây garô trên chỗ tiêm cách từ 3-5 cm (không thắt nút để dễ cởi và không buộc chặt quá).

2 - Bảo bệnh nhân nắm bàn tay lại, co vào duỗi ra vài lần làm cho tĩnh mạch nổi rõ thêm

Hình92/173

3 - Sát khuẩn bằng cồn 70? trên tình mạch để tiêm, theo chiều xoáy ốc rộng khoảng 5 cm2. Sát khuẩn tới khi sạch, tối thiểu 2 lần.

4 - Ngón tay trái miết căng mặt da gần chỗ tiêm để cố định tĩnh mạch khi đâm kim tĩnh mạch không bị di lệch.

5 - Tay phải cầm bơm tiêm đẩy hết không khí và các bọt thuốc ra ngoài, ngón trỏ giữ lấy đốc kim, ngón cái để trên thân bơm tiêm, ngón giữa va ngón nhẫn để bên cạnh thân bơm tiêm, ngón út giữ lấy ruột bơm tiêm. Ðể ngửa mũi vát của kim lên trên, đâm kim ngay trên tĩnh mạch, qua da vào tĩnh mạch, kim chếch 15-30? so với mặt da (cũng có thể đâm bên cạnh tĩnh mạch), sau đó hạ thấp bơm tiêm rồi mới luồn kim lên dọc tĩnh mạch.

Hình 93/173

Khi đâm kim trúng vào tĩnh mạch thường có cảm giác tay hẫng nhẹ, máu sẽ chảy vào bơm tiêm, hoặc kéo nhẹ ruột bơm tiêm sẽ thấy máu chảy vào bơm tiêm. Tay trái tháo nhẹ nhàng dây garô và bảo bệnh nhân mở bàn tay ra, đồng thời ngón trỏ tay trái giữ lấy đốc kim tay phải bơm chậm thuốc vào. Nếu bệnh nhân kêu đau là kim đã chệch ra ngoài mạch máu, nhìn tại chỗ thấy phồng phải điều chỉnh kim lại bằng cách đâm sâu thêm hoặc rút bớt ra một chút, rồi bơm thuốc thật chậm. Vừa bơm, vừa theo dõi bệnh nhân xem có phản ứng gì không.

Khi bơm gần hết thuốc phải thận trọng đừng để không khí vào mạch máu gây tắc mạch máu, nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân.

Tiêm xong, lúc rút kim phải kéo căng da để tránh chảy máu. Sát khuẩn lại chỗ tiêm, đặt bông tẩm cồn lên nơi tiêm, bảo bệnh nhân gập tay lại để giữ bông.

Ðể bệnh nhân nằm lại thoải mái. Sau đó thu dọn dụng cụ và phải rút ngay nước lạnh vào bơm tiêm để phụt rửa cho sạch, tránh máu và thuốc làm tắc kim và két bẩn bơm tiêm.

g) Biến cố và cách xử trí:

- Tắc kim: Khi đâm kim vào tĩnh mạch, máu chạy vào bơm tiêm nhưng bị đông lại ngay, là do cục máu đông ngay đầu mũi kim, gây tắc kim không bơm thuốc vào được phải rút kim ra, thay kim khác rồi tiêm lại.

- Phồng nơi tiêm: Khi đâm kim vào trúng tĩnh mạch, máu trào vào bơm tiêm, nhưng bơm thuốc vào lại phồng lên vì mũi vát của kim nằm nửa trong và nửa ngoài tĩnh mạch, phải điều chỉnh lại mũi kim, khi tiêm xong dặn bệnh nhân chườm nóng để nhanh tan.

- Bệnh nhân bị sốc hoặc bị ngất vì sợ: Vì phản ứng thuốc, vì tiêm quá nhanh hoặc vì đâm kim nhiều lần không trúng tĩnh mạch, bệnh nhân đau phải ngừng tiêm và báo cáo ngay với bác sĩ để xử trí kịp thời.

- Nếu bơm thuốc vào mà thấy bệnh nhân kêu đau nóng ở bàn tay thì phải ngừng tiêm và rút kim vì có thể đâm nhầm vào động mạch gây hoại tử, nguy hiểm cho bệnh nhân.

4.2.13. Những điều chú ý khi dùng thuốc đường tiêm:

- Phải thực hiện nguyên tắc vô khuẩn hoàn toàn tuyệt đối cả trước, trong và sau khi tiêm.

- Luôn áp dụng chế độ 3 kiểm tra 5 đối chiếu với bệnh nhân.

- Bơm và kim tiêm khoa nào chỉ dùng cho khoa đó và mỗi bệnh nhân được dùng bơm và kim tiêm riêng.

- Khi tiêm không được đâm ngập hết kim mà phải để thừa từ 0,5-1 cm về phía đốc kim để phòng bị gẫy kim

- Khi tiêm xong phải ghi vào hồ sơ ngày giờ tiêm thuốc, tên thuốc, liều lượng và đường tiêm, phản ứng thuốc với bệnh nhân nếu có và ghi rõ họ tên người thực hiện.

- Thu dọn và bảo quản dụng cụ: Phải đánh rửa bơm và kim tiêm bằng nước xà phòng - phụt rửa kim cho thơm rồi rửa lại bằng nước lã thật sạch. Sau đó sắp xếp và đem hấp sấy.

4.3. Thuốc dùng ngoài da và niêm mạc

Các thuốc dùng ngoài da và niêm mạc ở nhãn thường có màu vàng và có hàng chữ "Không được uống".

4.3.1. Thuốc ngậm dưới lưỡi

4.3.2. Khí dung (hay còn gọi là xông): Thuốc ngấm qua đường hô hấp làm giảm co thắt cơ trơn, giảm viêm họng.

Thường xông các thuốc kháng sinh khi bệnh nhân viêm đường hô hấp trên, viêm các xoang vùng mặt.

4.3.3. Thuốc đặt âm đạo, đặt hậu môn: Hay dùng ở sản khoa, hạ nhiệt độ cho trẻ em bị sốt cao hay co giật.

4.3.4. Các loại thuốc bôi ngoài da: Hay dùng ở khoa da liễu, khoa bỏng.

4.3.5. Các thuốc xoa: Như các loại thuốc dầu nóng Trường Sơn, Thiên Long, Dầu long não, Cao sao vàng.

4.3.6. Thuốc nhỏ mắt, mũi, tai:

a) Kỹ thuật nhỏ thuốc tai và rửa tai

Chuẩn bị dụng cụ:

- Thuốc nhỏ theo chỉ định hoặc quả bóp cao su

- Một tấm nilon (nếu rửa tai)

- Bông cầu

- Hai quả đậu

* Bệnh nhân

Có thể ngồi hoặc nàm nghiêng về bên tai lành

* Quy trình kỹ thuật

Nhỏ thuốc tai:

Ðiều dưỡng viên rửa tay, tay phải cầm ống thuốc nhỏ giọt, tay trái kéo vành tai lên trên và ra sau, nhỏ vài giọt thuốc vào thành ống tai (không nhỏ thẳng vào màng nhĩ). Kéo nhẹ vài lần vành tai cho thuốc dễ vào.

Hình 94/176

Dận bệnh nhân giữ đầu ở tư thế đó vài phút, lấy bông cầu nút tai lại cho bệnh nhân để thuốc không chảy ra ngoài. Sau đó đỡ bệnh nhân ngồi dậy.

Rửa tai:

Hình 95/176

Quàng tấm nylon trên vai bệnh nhân, để đầu ghiêng về phía bên tai rưả. Nhờ bệnh nhân cầm khay quả đậu hứng nước bẩn dưới tai, nếu bệnh nhân còn nhỏ có thể nhờ người phụ cầm giúp.

Ðiều dưỡng tay phải cầm quả bóp có ống hút, tay trái ngón trỏ và ngón cái kéo vành tai lên trên hoặc kéo dái tai xuống dưới. Bơm nước từ từ vào thành ống tai ngoài (không nên bơm quá nhanh làm cho bệnh nhân có thể chóng mặt hay nhức tai do bơm quá nhanh và mạnh vào mang tai, hoặc nước quá nóng, quá lạnh), nên bơm đều đều và nghỉ ngắt quãng.

Sau lấy bông lau khô ống tai và vành tai cho bệnh nhân.

b) Kỹ thuật nhỏ và rửa mắt.

* Chuẩn bị dụng cụ:

- Thuốc nước, thuốc mỡ theo chỉ định.

- Miếng gạc vô khuẩn.

- Bông thấm nước.

- Khay quả đậu

- Dung dịch để rửa mắt: Dung dịch muối sinh lý, natri hydrocarbonat, thuốc tím pha loãng, Boric.

*Bệnh nhân nằm ngửa thẳng hoặc ngồi trên ghế tựa đầu tựa trên thành ghế.

Hình 96/177

Hình97/177

*Quy trình kỹ thuật

Nhỏ thuốc:

Hình98/177

Hình99/177

Ðiều dưỡng sát khuẩn tay. Tay trái cầm miếng gạc, kéo mi dưới xuống, tay phải cầm ống thuốc nhỏ hai giọtthuốc vào niêm mạc mi dưới hoặc góc trong mắt (tránh nhỏ vào niêm mạc nhãn cầu). Bảo bệnh nhân nhắm mắt lại và lấy bông vô khuẩn thấm thuốc tràn ra ngoài mắt.

Tra thuốc mỡ.

Tay trái kéo mi dưới xuống, tay phải cầm ống thuốc bỏ ít thuốc đầu, bóp một lượng thuốc vừa đủ bằng hạt thóc vào cùng đồ mi dưới, chờ một chút cho thuốc mỡ tan rồi thả ngón tay ở mi mắt ra.

Lau rửa mắt.

Dùng bông vô khuẩn thấm vào nước chín để nguội hoặc nước muối sinh lý (9%) lau mi mắt từ trong ra ngoài hoặc từ ngoài vào trong, lau xong một mắt lấy bông khác lau tiếp mắt thứ hai.

Lưu ý không lau 2 mắt bằng cùng miếng bông va không nhúng bông lau rồi vào nước để rửa tiếp mà phải lấy bông khác.

Rửa mắt:

Bệnh nhân nằm đầu nghiêng sang bên rửa, hứng khay quả đậu dưới má. Dùng quả bóp hút dung dịch để bơm rửa mỗi mắt 2-3 lần. Sau lấy gạc vô khuẩn lau sạch và bảo bệnh nhân nhắm mắt lại.

c) Kỹ thuật nhỏ mũi.

* Dụng cụ.

Thuốc nước hoặc thuốc mỡ theo chỉ dẫn.

* Bệnh nhân:

Nằm hoặc ngồi ngửa đầu ra sau

* Quy trình kỹ thuật.

- Ðiều dưỡng rửa tay, tay trái giữ đầu bệnh nhân, tay phải cầm ống thuốc nhỏ 2-3 giọt vào thành bên của mũi, sau đó bóp nhẹ cánh mũi để thuốc tan đều.

- Nếu là thuốc mỡ, cho vào mỗi bên mũi một ít thuốc bằng độ hạt thóc, bảo bệnh nhân hít nhẹ từ từ, hít mạnh sẽ làm thuốc vào họng.



 

Mục lục

YKHOANET - Website Y Khoa Việt Nam

 

Bài19: Thông tiểu lấy nước tiểu 24 giờ

1. Cơ sở lý thuyết 

1.1. Mục đích

Thông tiểu là phương pháp dùng ống thông đưa qua niệu đạo vào bàng quang để lấy nước tiểu ra ngoaì và điều trị bệnh.

1.2. áp dụng

- Bí đái

- Thông tiểu trước khi mổ, trước khi đẻ

- Bệnh nhân hôn mê

- Lấy nước tiểu xét nghiệm tìm vi khuẩn để chẩn đoán các bệnh về hệ tiết niệu.

1.3. Không áp dụng

- Nhiễm khuẩn niệu đạo

- Giập rách niệu đạo.

- Chấn thương tuyến tiến liệt....

Nếu thông có thể gây tổn thương thêm niệu đạo.

2. CáC ĐIểM CầN Lưu ý KHI THÔNG TIểU.

2.1. Dụng cụ (nhất là ống thông) phải tuyệt đối vô khuẩn để tránh nhiễm khuẩn ngược dòng.

2.2. Kỹ thuật thực hiện phải đúng quy trình và vô khuẩn.

2.3. Động tác phải nhẹ nhàng (tránh thô bạo) nếu vướng mắc phải làm lại hoặc bảo bệnh nhân há miệng thở đều để giảm co thắt niệu đạo.

2.4. Phải lấy nước tiểu giữa bãi (nếu cần lấy nước tiểu thử vi khuẩn) nên lấy trực tiếp vào ống nghiệm vô khuẩn.

2.5. Không để lưu ống thông quá 48 giờ.

2.6. Không thông đái nhiều lần trong ngày.

2.7. Nếu bệnh nhân bí đái phải rút nước tiểu chậm và không rút hết nước tiểu trong bàng quang sẽ làm giảm áp lực đột ngột và gây chảy máu.

2.8. Theo dõi bệnh nhân trong và sau khi thông tiểu để phát hiện những dấu hiệu bất thường và xử trí kịp thời.

3. QUY TRìNH Kỹ THUậT KHI THÔNG TIểU: 

3.1. Chuẩn bị dụng cụ. 

3.1.1. Dụng cụ vô khuẩn:

- ống thông Nelaton, Foley (số 14-16 cho người lớn, số 8-10 cho trẻ em, tốt nhất là chuẩn bị 2 cái), chuẩn bị loại mềm hoặc cứng cho thích hợp.

- Gǎng tay cao su

- Gạc miếng, gạc củ ấu, khǎn phủ đùi bệnh nhân.

- Khǎn có lỗ, bơm tiêm 10, 20ml

- Kìm Kocher

- Dầu Paraffin

3.1.2. Dụng cụ sạch.

- Khay chữ nhật

- Dung dịch sát khuẩn. Thuốc đỏ 2%, thuốc tím 1%, argyrol 10%...

- Có bình phong (nếu thông tiểu tại giường)

- Tấm nylon

- Bốc đựng nước rửa bộ phận sinh dục (nếu bệnh nhân nặng nằm tại chỗ)

- Cọc treo bốc, nước xà phòng loãng, nước đun sôi để nguội

- Bô dẹt.

- Khay quả đậu: 1 khay.

3.2. Chuẩn bị bệnh nhân:

- Giải thích để bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân biết việc sắp làm để họ yên tâm và hướng đẫn bệnh nhân cách hít vào dài dặn nhẹ để giãn cơ thắt bàng quang (nếu cần).

- Bệnh nhân nhẹ: Chuẩn bị nước để bệnh nhân tự làm vệ sinh bộ phận sinh dục ngoài trước khi thông tiểu.

- Bệnh nhân nặng:

+Trải tấm nylon trên giường, đặt sẵn bô dẹt dưới mông bệnh nhân, để bệnh nhân nằm ngửa co đầu gối chống chân xuống giường và hơi dạng.

+ Rửa bộ phận sinh dục ngoài bằng nước xà phòng loãng hoặc nước đun sôi để nguội, rửa từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, khi xong đổ nước bẩn đi, rửa bô dẹt và đặt lại dưới mông bệnh nhân.

- Cán bộ y học rửa sạch tay.

3.3. Tiến hành kỹ thuật

- Cán bộ y học viên đeo khẩu trang

- Rửa tay

- Kiểm tra lại địa điểm, dụng cụ, bệnh nhân.

3.3.1. Thông tiểu nam:

- Dùng vải đắp che cho bệnh nhân và cởi bỏ quần ra, quấn vải đắp để vào hai chân.

- Đổ dung dịch sát khuẩn vào bát kền đã có gạc củ ấu.

- Cán bộ y học sát khuẩn tay

- Đi gǎng vô khuẩn

- Trải khǎn mổ có lỗ để lộ dương vật bệnh nhân.

- Bôi dầu parafin vào ống thông (7 - 10cm).

- Tay trái kéo bao da quy đầu xuống để lộ lỗ niệu, tay phải cầm kìm kẹp gạc củ ấu thấm dung dịch sát khuẩn lên quy đầu từ lỗ niệu ra ngoài (H.120)

Một tay cầm dương vật thắng đứng (dương vật thắng góc 90o với cơ thể bệnh nhân), tay kia cầm ống thông đặt từ từ vào lỗ tiểu khoảng 10cm, hạ dương vật xuống (song song với thành bụng) là ống thông tự trôi vào bàng

quang đến khi thấy nước tiểu chảy ra (H.122). Đưa ống thông sâu khoảng 18 - 20cm.

- Nếu thấy mắc, vướng bảo bệnh nhân thở hít mạnh và hơi dặn ống sẽ dễ vào, nếu khó đưa vào thì không được tiếp tục đẩy ống thông, phải rút ra làm lại.

- Khi ống thông vào tới bàng quang, tùy theo chỉ định mà lấy nước tiểu để xét nghiệm hoặc tháo nước tiểu ra.

(Nếu làm xét nghiệm: Sau vài giây để nước tiểu chảy ra bô dẹt rồi hơ ống nghiệm qua ngọn đèn cồn và tiến hành lấy nước tiểu giữa bãi vào ống và hơ qua ngọn đèn cồn khi đã lấy đủ lượng nước tiểu nút miệng ống lại. Ghi

tên bệnh nhân, tuổi, số giường, buồng.

- Nếu cần lưu ống thông: Bơm dung dịch nước cất hay nước muối sinh lý vào nhánh thông với bong bóng, số lượng nước bơm vào ghi nơi đuôi ống thông (thường là 5ml) cố định thông nối ống thông với hệ thống thu gom nước tiểu (chai hoặc túi thu).

- Nếu bệnh nhân bị bí đái, khi nước tiểu chảy qua ống thông phải cho chảy từ từ và không nên lấy quá 750ml nước tiểu ở bàng quang (dễ gây chảy máu bàng quang).

- Rút ống thông để vào khay quả đậu.

+ Dùng bơm tiêm rút nước trong bong bóng ra hết.

+ Bóp ống lại và từ từ rút ra.

- Sát khuẩn lại lỗ niệu đạo bằng dung dịch sát khuẩn, làm vệ sinh vùng sinh dục lau sạch, khô.

- Kéo quần lên cho bệnh nhân và để bệnh nhân nằm lại tư thế thoải mái.

- Thu dọn dụng cụ

3.3.2. Thông tiểu nữ:

Với bệnh nhân nữ cũng như các bước đã chuẩn bị để tiến hành như bệnh nhân nam giới.

- Dùng vải đắp che cho bệnh nhân và cởi bỏ quần ra, quấn vải đắp vào 2 chân.

- Đặt bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, 2 chân chống và ngả 2 đùi ra

- Đổ dung dịch sát khuẩn vào bát kền

- Cán bộ y học sát khuẩn tay

Một tay: dùng ngón cái và ngón trỏ đã quấn gạc vạch môi lớn và môi nhỏ ra, tay kia dùng kẹp gắp bông cầu (gạc củ ấu) thấm dung dịch sát khuẩn từ lỗ niệu đạo ra ngoài môi lớn và chỉ một lần rồi sau đó sát khuẩn đến các vùng khác ở bên cạnh (Nếu âm hộ quá bẩn thì phải rửa bằng nước ấm và xà phòng trước khi thông tiểu (H 125)

- Cán bộ y học đi gǎng tay

- Trải khǎn có lỗ bộc lộ bộ phận sinh dục

- Bôi dầu Parafin vào đầu ống khoảng 4 - 5 cm

- Một tay cầm ống thông đưa vào niệu đạo nhẹ nhàng khoảng 5 - 6cm hoặc đến khi thấy nước tiểu chảy ra (Tránh đưa nhầm vào lỗ âm đạo), với trẻ em đưa vào 2,5cm. Nếu vướng mắc bảo bệnh nhân hít thở sâu.

Khi ống thông vào tới bàng quang tùy theo chỉ định mà lấy nước tiểu để xét nghiệm hoặc tháo nước tiểu ra hoặc rửa bàng quang để điều trị.

- Nếu lấy nước tiểu vô khuẩn làm xét nghiệm thì phải bỏ một ít nước tiểu ban đầu, chỉ lấy nước tiểu ở phần giữa bãi. Trước khi hứng nước tiểu phải hơ miệng ống qua ngọn lửa đèn cồn và nút lại ghi tên, tuổi bệnh nhân, số giường, số buồng bệnh nhân ở ống.

- Nếu bệnh nhân bị bí đái, khi nước tiểu chảy qua ống thông phải cho chảy từ từ và không nên lấy hết nước tiểu ở bàng quang ra (gây chảy máu bàng quang do tụt áp lực một cách đột ngột).

- Tùy theo yêu cầu của bác sĩ, có thể để lưu thông lại, phải cố định ống thông bằng cách bơm nước muối 0,9% vào nhánh phụ (thông với bong bóng để làm cǎng bóng chèn) số lượng nước bơm vào ghi nơi đuôi ống thông, thường là 5ml, cố định ống thông vào đùi và lắp với hệ thống thu nước tiểu (hình 126, 127).

- Rút ống thông nhẹ nhàng để vào khay quả đậu (nếu ống thông lưu nhiều ngày và có bóng chèn nhớ tháo nước trong bóng trước khi rút).

+ Dùng bơm tiêm rút nước trong bong bóng ra hết.

+ Bóp ống lại và từ từ rút ra.

- Sát khuẩn lại lỗ niệu đạo, alu, vệ sinh vùng sinh dục sạch, lau khô da vùng đó.

- Mặc quần cho bệnh nhân và để bệnh nhân nằm lại tư thế thoải mái.

- Thu dọn dụng cụ - ghi hồ sơ bệnh án.

Nếu có xét nghiệm phải đưa nước tiểu đến phòng xét nghiệm sớm.

4. cách lấy nước tiểu 24 giờ để làm xét nghiệm 

4.1. Nguyên tắc:

- Dặn bệnh nhân phải lấy đủ nước tiểu trong 24h kể cả lúc đi đại tiện.

- Phải có hóa chất để giữ nước tiểu khỏi hỏng.

- Dụng cụ để tiến hành thủ thuật phải đủ (phải sạch)

- Phải lắc đều nước tiểu thu được (tổng cộng số lượng) trong 24 giờ rồi lấy vào bình đưa đến phòng xét nghiệm. 

4.2. Kỹ thuật tiến hành:

- Cho sẵn hóa chất giữ nước tiểu với một lượng tương đương với 1/2 lít nước tiểu rồi sau đó sẽ cho thêm dần theo số lượng nước tiểu tiếp.

- Nếu bắt đầu từ 9 giờ sáng thì cho bệnh nhân đi tiểu ra ngoài hố tiểu và từ bãi sau dặn bệnh nhân tiểu vào bô đã có chất giữ nước tiểu khỏi hỏng và đậy nắp bô lại.

- Dặn bệnh nhân thu cả nước tiểu lúc đi đại tiện và đổ vào bô cho đến 9 giờ sáng hôm sau (đủ 24 giờ) dặn bệnh nhân đi tiểu lần cuối cùng vào bô.

- Ghi số lượng nước tiểu thu được trong 24 giờ vào hồ sơ, phiếu theo dõi, phiếu xét nghiệm.

- Lắc đều tất cả số lượng nước tiểu thu được trong 24 giờ

- Sau khi lắc đều xong lấy 500ml cho vào bình thủy tinh vô khuẩn và ghi phiếu xét nghiệm: Họ và tên bệnh nhân, số giường buồng, tổng số lượng nước tiểu trong 24 giờ.

- Đưa đến phòng xét nghiệm

- Thu dọn dụng cụ, rửa sạch và để vào nơi quy định.

5. TAI BIếN CủA THÔNG TIểU.

- Chảy máu

- Nhiễm khuẩn ngược dòng

- Sốc (do bệnh nhân quá sợ hãi, đau)

- Thủng trực tràng.



 

ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN


 

 

CÁC PHƯƠNG PHÁP CẦM MÁU VÀ LÀM GARO

1. ĐẠI CU'ƠNG.

Máu lưu thông trong cơ thể cung cấp cho các tổ chức tế bào oxy và chất dinh dưỡng, do đó để đảm bảo cho sự cung cấp này thì phải duy trì sự lưu thông tuần hoàn của máu trong cơ thể. Huyết áp và áp lực dể duy trì sự lưu thông tuần hoàn của máu.

Mất nhiều máu làm giảm huyết áp. Nếu chảy máu ở mức độ ít trầm trọng thì cơ thể sẽ bù, lại bằng cách tăng nhịp tim và hạn chế máu tới tổ chức dưới da và ruột, để tăng cường lượng máu tới các cơ quan sống còn của cơ thể như não. Nếu như huyết áp thấp bất thường vì bất cứ nguyên nhân gì thì chỉ sau một thời gian, thậm chí chỉ sau 30 phút thì những cơ quan quan trọng của cơ thể như não, tim và thận sẽ bị tổn thương nghiêm trọng. Thận là cơ quan đặc biệt nhạy cảm với sự giảm lưu lượng tuần hoàn và suy thận có thể xảy ra ngay sau một giai đoạn sốc ngắn.

Cơ thể có những cơ chế bảo vệ để chống lại sự chảy máu. Khi mạch máu bị cắt đứt thì đầu mạch máu bị đứt co lại để giảm sự chảy máu.

Mạch máu co lại làm giảm lưu lượng máu tới các đầu mạch bị tổn thương tạo điều kiện để các cục máu đông được hình thành, do đó chống lại sự mất máu thêm.  

2. Chảy máu có thể phân thành 2 loại

2.1. Chảy máu động mạch:

Máu động mạch (trừ máu động mạch phổi) có màu đỏ tươi. Khi bị đứt động mạch, máu chảy ra thành tia và phun mạnh lên khi mạch đập. 

2.2. Chảy máu tĩnh mạch:

Máu tĩnh mạch có màu đỏ sẫm (trừ máu tĩnh mạch phổi). Khi bị đứt tĩnh mạch máu chỉ đùn ra hoặc phun ra từ từ.

2.3. Chảy máu mao mạch:

Mao mạch là những mạch máu nhỏ nối giữa động mạch và tĩnh mạch. Máu rỉ ra từ vết thương trong những trường hợp vết thương là vết cắt hoặc giập nát nhỏ. Trong những vết thương lớn hơn có tổn thương cả tĩnh mạch hoặc động mạch hoặc cả động mạch tĩnh mạch thì các mao mạch CHẢY RA BỊ MÁU TĨNH MẠCH VÀ ÐỘNG MẠCH ÁT ÐI.

3.sù ch¶y m¸u cã thÓ ®­îc ph©n thµnh 2 lo¹i

3.1. Chảy máu ngoài: Máu chảy ra từ vết thương trên cơ thể (nhìn thấy được)

3.2. Chảy máu trong:

Máu chảy ra từ vết thương bên trong cơ THỂ (KHÔNG NHÌN THẤY ÐƯỢC). MẤT MÁU trong cơ thể là: mất máu trong ẩn dấu (máu đọng lại bên trong cơ thể không nhìn thấy) và mất máu trong lộ ra (nhìn thấy). Khi đã nhận định, đánh giá tình trạng chảy máu xong thì phải có những ưu tiên để cầm máu và chăm sóc.

Trong những trường hợp chảy máu nặng thì cần sự hồi sinh cho nạn nhân. Có những trường hợp không thể cầm máu hoàn toàn được nhưng tiến hành cầm máu và hồi sinh ngay cho nạn nhân nên đã duy trì được sự sống của nạn nhân cho đến khi chuyển tới cơ sở y tế có khả năng giải quyết VÀ NẠN NHÂN ÐÃ ÐƯỢC CỨU SỐNG. 

4. triÖu chøng vµ dÊu hiÖu cña mÊt nhiÒu m¸u.

- Bằng chứng của sự mất máu: có thể có hoặc không.

- Da xanh nhợt, lạnh, vã mồ hôi.

- Hoảng hốt, giãy giụa, kích thích, ý thức lú lẫn, lộn xộn, thay đổi mức độ tỉnh táo

- Nhịp thở nhanh nông (đói không khí)

- Mạch nhanh và yếu

- Tiến triển dần tới tình trạng "sốc" 

5.c¸c kü thËt cÇm m¸u 

5.1. Cầm máu mao mạch, tĩnh mạch.

Nhanh chóng ép trực tiếp lên vết thương hoặc dùng tay ép vết thương lại. Nếu có điều kiện thì đặt lên vết thương một miếng gạc hoặc miếng vải sạch trước khi ép trực tiếp lên vết thương.

- Ðặt nạn nhân nằm ở tư thế thoải mái thuận tiện, nâng cao vùng bị tổn thương vì sự nâng cao làm giảm áp lực máu ở vùng đó nên làm giảm chảy máu.

- Dùng băng cuộn hoặc dây vải băng ép miếng gạc hoặc miếng vải vào vết thương. Không băng quá chặt như hình thức ga rô.

- Nếu máu thấm qua bông thì dùng băng quấn thêm lên băng cũ. Ðừng tháo bỏ băng cũ khi thấm máu.

- Giữ yên tĩnh cho nạn nhân, động viên an ủi nếu nạn nhân tỉnh táo.

- Chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế nếu thấy cần thiết.

- Trong khi chờ đợi hoặc trên đường vận chuyển phải luôn kiểm tra theo dõi tình trạng hô hấp, tuần hoàn của nạn nhân. Giữ ấm cho nạn nhân. Nâng cao chân và tay bị tổn thương. Nếu nạn nhân tỉnh táo thì cho uống nhiều nước.

* Một số điểm chú ý khi xử trí vết thương chảy máu

- Nếu các vết thương chảy máu có dị vật như mảnh gỗ, kim loại hoặc bất kỳ một vật gì đâm vào mà vẫn còn cắm ở VẾT THƯƠNG THÌ KHÔNG BAO GIỜ DƯỢC rút những dị vật đó ra khỏi vết thương. Trong trường hợp này một vòng đệm (vành khăn) làm bằng một miếng vải vuông hoặc một khăn tam giác quấn lại thành vòng đệm xung quanh dị vật sau đó dùng băng ép lại rồi chuyển nạn nhân tới bệnh viện.

- Nếu băng ép áp lực trực tiếp lên vết thương mà không cầm được máu, máu vẫn chảy ra nhiều thì phải dùng các biện pháp khác để cầm máu.

- Phương pháp ấn vào động mạch chi phối vùng có vết thương.

- Ðiểm ấn vào động mạch là điểm mà ở chỗ đó động mạch đi trên một nền cứng ví dụ như xương. Khi ấn vào điểm này động mạch sẽ bị ép vào xương do đó cắt đứt luồng máu cung cấp cho vùng ở phía bên kia của điểm ấn nên sẽ kiềm chế được sự chảy máu ở vết thương tạo điều kiện cho vết thương tự cầm máu. Ví dụ: Khi ấn động mạch đùi thì toàn bộ chi dưới không được cung cấp máu. Phương pháp này chỉ được áp dụng khi đã băng ép trực tiếp lên vết thương và nâng cao phần bị thương mà vẫn KHÔNG CẦM ÐƯỢC MÁU. CÓ 6 điểm ấn chính được sử dụng để làm ngừng chảy máu trên những vùng khác nhau của cơ thể.

+ Ðộng mạch cảnh: Ðộng mạch này nằm ở bên cạnh khí quản. Khi ấn phải ấn về phía sau lên trên cột sống vì nếu ấn sang bên thì SẼ ẤN VÀO KHÍ QUẢN LÀM TẮC ÐƯỜNG THỞ. Ấn động mạch cảnh để khống chế sự chảy máu ở vùng cổ và đầu.

+ Ðộng mạch thái dương: Ðiểm ấn của động mạch này ở NGAY PHÍA TRƯỚC CỦA TAI.

+ Ðộng mạch mặt: Ðiểm ấn của động mạch này ở cách góc hàm khoảng 2,5cm về phía trước. Khi ấn phải ấn vào mặt ngoài xương hàm dưới....

+ Ðộng mạch dưới đòn: Ðiểm ấn ở ngay phía sau đầu trong xương đòn.

Khi ấn phải ấn xuống dưới về phía xương sườn thứ ri.hất.

+ Ðộng mạch cánh tay: Ðiểm ấn ở mặt trong của tay ở đoạn giữa của khuỷu tay và vai. Khi ấn dùng tay bóp vào trong xương cánh tay.

+ Ðộng mạch đùi: Ðiểm ấn ở đoạn giữa của nếp bẹn. Khi ấn thường dùng 2 đầu ngón tay cái ấn xuống phía xương chậu hoặc dùng cả bàn tay để ấn thẳng xuống vùng nếp bẹn.

5.2. Cầm máu động mạch. 

5.2.1. Ðặt ga rô

a) Ga rô chính quy.

- Dùng một băng cao su mỏng mềm đàn hồi tốt, to bản, dài (Esmareh)

+ Chi trên: Rộng 3 - 5cm, dài: 1,2 - 2m

+ Chi dưới: Rộng 5 - 8cm, dài 2 -3m

* Nguyên tắc đặt ga rô.

- Chặn động mạch trên đường đi của động mạch dẫn tới vết thương.

- Ðặt ga rô cách vết thương 2 - 3cm

- Không đặt ga rô trực tiếp lên da thịt của bệnh nhân, phải có vòng đệm

- Xử trí vết thương phần mềm.

- Tổng số giờ đặt ga rô không quá 6 giờ, 1 giờ nới ga rô một lần, mỗi lần nới không quá 1 phút.

- PHẢI CÓ PHIẾU GA RÔ ÐẶT Ở nơi dễ nhìn thấy nhất. Viết chữ phiếu ga rô màu đỏ, khung của phiếu ga rô màu đỏ trong đó có ghi nội dung của phiếu ga rô. Vận chuyển ưu tiên số 1.

* Kỹ thuật tiến hành.

Chuẩn bị dụng cụ:

+ Ga rô Esmarch.

+ Vòng băng lót

+ Bông gạc vô khuẩn

+ Băng cuộn, phiếu ga rô

- Chặn động mạch để cầm máu ngay trên đường đi của động mạch dẫn

đến vết thương.

- Ðặt ga rô cách vết thương 2-3cm

+ Vòng 1: Vừa phải

+ Vòng 2: Chặt hơn

+ Vòng 3: Chặt nhất (Quyết định sự cầm máu)

+ Vòng 4: Nới rộng để nhét cuộn ga rô còn lại vào

- Xử trí vết thương: Sát khuẩn xung quanh, đặt gạc băng lại, viết phiếu ga rô

- Nới ga rô: Luồn 2 ngón tay vào vòng cuối cùng nâng lên, rút cuộn ga rô vừa cuộn lại vừa nới hết vòng thứ 3 từ từ.

- Quan sát vùng dưới vết thương thấy hồng, ấm lại thì cuốn lại vòng thứ 3 chặt, vòng thứ 4 nới lỏng để nhét cuộn ga rô còn lại.

b) Ga rô tùy ứng.

+ Khăn mùi xoa 2-3 chiếc

+ Bút chì, thước kẻ, đũa, dây buộc

* Tiến hành

- Chặn động mạch

+ Quấn một khăn lót trên vết thương

+ Một khăn gấp chéo nhỏ lại buộc lỏng trên khăn thứ nhất.

+ Luồn một que vừa nâng vừa xoắn khăn thứ hai đến khi máu ngừng chảy.

+ Cố định que tránh va chạm vào vết thương

- Xử trí và băng vết thương chuyển nhanh đến tuyến trên.

5.2.2. Băng ép động mạch cổ.

a) Dụng cụ

- 1 nẹp dài từ quá đầu đến quá khuỷu tay

- Băng cuộn: 2-3 cuộn

- Gạc vô khuẩn

b) Tiến hành

- Chặn động mạch cổ

- Xử trí vết thương

- Ðặt một vật (băng, gạc cuộn chặt lại) chặn lên động mạch.

- Cố định nẹp vào đầu, cánh tay và giữ vật chặn tại chỗ

- Treo cánh tay vuông góc với cẳng tay bằng khăn chéo.

- Chuyển ưu tiên cấp cứu số 1 đến khoa ngoại.

6. Xử TRí CấP CứU Và CHăM SóC CấP CứU CHảY MáU TRONG.

Chảy máu trong cơ thể gây mất máu rất trầm trọng mà không nhìn thấy một chút máu nào chảy ra ngoài cả. Loại mất máu này gọi là mất máu ẩn giấu: Chảy máu trong có thể xảy ra sau gãy một xương lớn như xương chậu, xương đùi hoặc sau chấn thương các tạng đặc như gan, lách.

Mặc dù máu không bị mất khỏi cơ thể như trong chảy máu ngoài nhưng máu bị mất khỏi hệ thống tuần hoàn nên cũng gây hậu quả hạ huyết áp.

Có những trường hợp chảy máu trong lượng máu mất rất ít nhưng lại gây những vấn đề trầm trọng như trong trường hợp chảy máu nội sọ hoặc màng tim vì lượng máu chảy ra tích tụ lại trong sọ não hoặc quanh tim gây nên áp lực chèn ép não hoặc tim.

Chảy máu trong ẩn giấu có thể trở thành chảy máu trong lộ ra(nhìn thấy) qua sự đi tiểu ra máu, đi ngoài phân đen, nôn hoặc ho ra máu hoặc sự hình thành khối máu tụ bầm tím ngay trên phần bị chấn thương.

6.1. Những nguyên nhân gây nên chảy máu trong.

6.1. 1. Chảy máu trong ẩn giấu.

- Gãy xương: Xương chậu, các xương dài, xương sọ

- Chấn thương các cơ quan: Gan, lách, phổi, thận, tim, não và các cơ quan khác.

6.1.2. Chảy máu trong lộ ra

- VỠ NỀN sọ: máu chảy ra qua lỗ tai, lỗ mũi.

- Chấn thương trực tiếp: mũi, miệng, họng.

- Loét tiêu hóa:

+ Nôn ra máu đen

+ Phân đen (máu biến đổi)

Chú ý: Máu đỏ tươi chảy ra từ trực tràng thường

- Chấn thương phổi hoặc đường thở: ho ra máu đỏ tươi có lẫn bọt

- Chấn thương thận hoặc bàng quang: đi tiểu ra nước tiểu đỏ máu

- VỠ XƯƠNG chậu có tổn thương niệu đạo: đi tiểu ra máu đỏ tươi

- Chửa ngoài tử cung vỡ.

Bất kỳ một bệnh nhân nào trong tình trạng sốc do bị chấn thương đều phải được coi là có chảy máu trong cho đến khi được chứng minh.

6.2.1. Xử trí cấp cứu và chăm sóc

- Ðặt nạn nhân nằm ngửa đầu thấp và mặt nghiêng về một bên để cung cấp đủ máu cho não. Khuyên nạn nhân nằm yên.

- Nâng cao chân nạn nhân nếu điều kiện cho phép.

- Nới lỏng dây áo, dây lưng,cravat... cho nạn nhân.

- Ðắp ấm cho nạn nhân, nếu có điều kiện thì đắp thêm cho nạn nhân một tấm chăn nữa.

- Kiểm tra mạch, nhịp thở và mức độ đáp ứng (tỉnh táo) 10 phút/lần, ghi chép lại kết quả.

- Thăm khám nạn nhân để phát hiện những chỗ thủng khác.

- Nếu nạn nhân trở nên bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường thì đặt nạn nhân nằm tư thế hồi phục, nếu ngừng thở phải tiến hành cấp cứu ngay.

- Theo dõi tính chất của các dịch xuất tiết, bài tiết khỏi cơ thể.

- Nhanh chóng chuyển nạn nhân tới các cơ sở y tế có điều kiện phẫu thuật.

Phải coi đây là một cấp cứu ưu tiên. Trong khi vận chuyển vẫn phải theo dõi sát nạn nhân và duy trì tư thế đúng.

Không cho nạn nhân ăn uống bất cứ một thứ gì.



 

Mục lục

YKHOANET - Website Y Khoa Việt Nam

 

 

 

 

Phần bài tập thực hành

 Bài 1: HỒ SƠ BỆNH NHÂN VÀ CÁCH GHI CHÉP

Hồ sơ bệnh nhân là các giấy tờ có liên quan đến quá trình điều trị của người bệnh tại một cơ sở y tế trong một thời gian, mỗi loại có nội dung và tầm quan trọng riêng của nó. Hồ sơ được ghi chép đầy đủ, chính xác, có hệ thống sẽ giúp cho công tác chẩn đoán, điều trị phòng bệnh, nghiên cứu khoa học và đào tạo đạt kết quả cao, nó cũng giúp cho việc đánh giá chất lượng về điều trị, tinh thần trách nhiệm và khả nǎng của cán bộ.

Vì vậy mỗi nhân viên y tế cần phải hiểu và thực hiện tốt việc sử dụng và ghi chép hồ sơ.

1. Mục đích và nguyên tắc chung.

1.1 Mục đích:

Phục vụ cho chẩn đoán: phân biệt, nguyên nhân, quyết định.

- Theo dõi diễn biến của bệnh nhân và dự đoán các biến chứng.

- Theo dõi quá trình điều trị được liên tục nhằm rút kinh nghiệm bổ sung điều chỉnh về phương pháp điều trị và phòng bệnh.

- Giúp việc thống kê, nghiên cứu khoa học và công tác huấn luyện

- Đánh giá chất lượng điều trị, tinh thần trách nhiệm, khả nǎng của cán bộ.

- Theo dõi về hành chính và pháp lý.

1.2. Nguyên tắc chung:

Tất cả hồ sơ cần ghi rõ ràng, chữ viết dễ đọc, dễ xem. Mỗi bệnh viện có thể có những quy định riêng nhưng đều phải tuân theo những nguyên tắc chung.

1.2.1. Nguyên tắc sử dụng và ghi chép hồ sơ

- Tất cả các tiêu đề trong hồ sơ bệnh nhân phải được ghi chép chính xác, hoàn chỉnh (họ tên bệnh nhân, địa chỉ, khoa điều trị).

- Chỉ ghi vào hồ sơ những công việc điều trị chǎm sóc thuốc men do chính mình thực hiện. Chỉ sao chép những chỉ định dùng thuốc và điều trị của bác sĩ khi đã được ghi vào hồ sơ bệnh nhân.

- Tất cá các thông số theo dõi phải được ghi vào phiếu theo dõi bệnh nhân hàng ngày, mô tả tình trạng bệnh nhân càng cụ thể càng tốt. Không ghi những câu vǎn chung chung (bình thường, không có gì phàn nàn...). Cần có những nhận xét, so sánh về sự tiến triển cửa bệnh nhân sáng, chiều trong ngày.

Bệnh nhân nặng, bệnh nhân sau mổ cần có phiếu theo dõi đặc biệt liên tục suốt 24 giờ.

- Chỉ dùng ký hiệu chữ viết tắt phổ thông khi thật cần thiết.

- Bệnh nhân từ chối sự chǎm sóc cần ghi rõ lý do từ chối. Bệnh nhân mổ hay làm các thủ thuật phải có giấy cam đoan của bệnh nhân hoặc thân nhân, có chữ ký ghi rõ họ tên và địa chỉ.

1.2.2. Nguyên tắc bảo quản hồ sơ.

- Trong trường hợp phải sao chép lại hồ sơ (do bị hỏng, rách) phải dán kèm bản gốc vào cuối hồ sơ để đảm bảo tính hợp pháp.

- Hồ sơ bệnh nhân phải được bảo quản chu đáo, không để lẫn lộn, thất lạc, không được cho bệnh nhân tự xem hồ sơ và biết các điều bí mật chuyên môn.

- Khi bệnh nhân xuất viện, hồ sơ bệnh nhân phải được hoàn chỉnh đầy đủ và gửi về phòng kế hoạch tổng hợp của bệnh viện để lưu trữ.

2. Giơí thiệu các loại giấy tờ, hồ sơ bệnh nhân và cách ghi chép .

2.1. Các loại hồ sơ giấy tờ:

- Bệnh án

- Bảng theo dõi bệnh nhân.

- Mẫu bảng kế hoạch chǎm sóc.

- Các loại phiếu theo dõi khác.

2.2. Cách theo dõi và ghi chép: 

2.2.1. Bệnh án.

Bệnh án là hồ sơ chuyên môn chủ yếu của bệnh nhân qua đó thầy thuốc qua đó thầy thuốc có thể hiểu được về hoàn cảnh gia đình, tình hình tư tưởng, bệnh tật, quá trình phòng bệnh, chữa bệnh, sự diễn biến bệnh tình của bệnh nhân. Bệnh án gồm hai phần chính sau:

a) Phần hành chính:

Họ tên tuổi bệnh nhân, giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, nơi ở, địa chỉ cơ quan, họ tên người thân và địa chỉ khi cần liên lạc, số hồ sơ.

b) Phần chuyên môn: Bác sĩ ghi chép.

2.2.2. Bảng theo dõi mạch nhiệt độ: Dùng kết hợp với bảng theo dõi chǎm sóc bệnh nhân hoặc kế hoạch chǎm sóc.

a) Thủ tục hành chính.

Cán bộ y học viên khi tiếp nhận bệnh nhân vào viện, mỗi bệnh án kèm theo một bảng theo dõi mạch nhiệt, người cán bộ y học phải ghi đầy đủ vào các phần. Bệnh viện, khoa, phòng, giường, họ tên bệnh nhân, tuổi, giới, chẩn đoán.

b) Cách ghi và kẻ trên bảng:

- Ghi rõ: ngày, tháng, sáng, chiều

- Mạch: Dùng ký hiệu dấu chấm màu đỏ (.) trên biểu đồ, đường nối dao động giữa 2 lần đo mạch dùng bút màu đỏ.

- Nhiệt độ: Dùng ký hiệu dấu chấm màu xanh (.) trên biểu đồ, đường nối dao động giữa 2 lần đo nhiệt độ dùng bút màu xanh.

- Nhịp thở, huyết áp: dùng bút màu xanh ghi các chỉ số vào biểu đồ.

- Các theo dõi khác: ghi vào sáu dòng trống dưới biểu đồ mạch, nhiệt tùy theo y lệnh theo dõi và tính chất bệnh nhân và ghi rõ thêm.

- Cán bộ y học viên ký tên sau khi đã thực hiện đầy đủ các mục trên.

- Không khoanh tròn cột mạch, nhiệt độ.

* Lưu ý: Ngoài những thông số theo dõi trong bảng, trong những trường hợp cần thiết, cán bộ y học viên theo dõi bệnh nhân phải mô tả vào bệnh án những dấu hiệu, triệu chứng, những diễn biến bất thường hoặc làm rõ thêm các thông số đã ghi trong bảng.

2.2.3. Phiếu theo dõi và chǎm sóc bệnh nhân.

- Dùng cho tất cả các bệnh nhân nằm viện (trừ bệnh nhân hộ lý cấp I, II).

- Ghi đủ và rõ vào các phần: Bệnh viện, khoa, phòng, giường, họ tên bệnh nhân, tuổi, giới, chẩn đoán.

- Khi chǎm sóc bệnh nhân phải ghi ngày giờ rõ ràng.

- Ghi tất cả các diễn biến bất thường của bệnh nhân trong ngày (24 giờ)

- Ghi rõ cách xử trí và chǎm sóc sau mỗi diễn biến xảy ra.

- Sau khi chǎm sóc bệnh nhân phải ghi tên người thực hiện.

2.2.4. Bảng kế hoạch chǎm sóc bệnh nhân (Dùng cho bệnh hộ lý cấp I, II).

- Ghi rõ, đầy đủ vào các mục: Bệnh viện, khoa, phòng, giường, họ tên bệnh nhân, tuổi, giới, chẩn đoán.

- Cột ngày giờ: ghi giờ, ngày rõ ràng

- Cột nhận định tình trạng bệnh nhân: Ghi rõ tình trạng bệnh nhân thay đổi trong ngày.

- Cột kế hoạch chǎm sóc: Người cán bộ y học lập ra kế hoạch thực hiện trên bệnh nhân dựa vào nhận định ban đầu, lập kế hoạch theo thứ tự ưu tiên (Nặng trước nhẹ sau).

- Cột thực hiện kế hoạch: Ghi lại tất cả hành động chǎm sóc và xử trí của người cán bộ y học đối với bệnh nhân.

- Cột đánh giá. Ghi lại tình trạng bệnh tại thời điểm đánh giá, có phù hợp với kế hoạch và mục tiêu chǎm sóc không. Nếu kết quả chưa tốt phải xem lại kế hoạch và mục tiêu chǎm sóc bệnh nhân.

3. Bảo quản hồ sơ bệnh nhân

3.1. Tất cả hồ sơ bệnh nhân phải được bảo quản chu đáo.

3.2. Trong thời gian bệnh nhân điều trị, hồ sơ bệnh nhân phải được giữ gìn cẩn thận sạch sẽ, đầy đủ, sắp xếp theo thứ tự không để thất lạc, nhầm lẫn, phải dán lại theo quy định và được để trong một cặp hồ sơ riêng có ghi rõ: họ tên, tuổi bệnh nhân, số giường, buồng khoa.

3.3. Không để bệnh nhân tự xem hồ sơ của bản thân và của người khác.

3.4. Phải giữ bí mật về tình hình bệnh tật và những điều có tính cách riêng tư của bệnh nhân.

3.5. Sau khi làm xong thủ tục xuất viện phải giữ đầy đủ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân về phòng kế hoạch tổng hợp để lưu trữ.

Bệnh viện:

Phòng:

Khoa:

Giường: 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bảng theo dõi mạch, nhiệt độ

Họ tên bệnh nhân:

Tuổi:

Giới:

Chẩn đoán:

Ngày, tháng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mạch/phút

Nhiệt ToC

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

160

41o

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

140

40o

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

120

39o

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

100

38o

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

80

37o

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

60

36o

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

40

35o

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhịp thở

Lần/phút

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Huyết áp

mmHg

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tên Y tá viên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bệnh viện:

Phòng:

Khoa:

Giường:

 

 

Phiếu theo dõi và chǎm sóc bệnh nhân

Họ tên bệnh nhân:

Tuổi:

Giới:

Chẩn đoán:

Ngày giờ

Diễn biến

Xử trí, chǎm sóc

Người thực hiện

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dành cho cán bộ y học ghi

Kế hoạch chǎm sóc bệnh nhân

Bệnh viện:

Khoa: Phòng:

Bệnh nhân:

Tuổi:

Chẩn đoán:

Ngày giờ

Nhận định tình trạng bệnh nhân

Kế hoạch và mục tiêu chǎm sóc

Thực hiện kế hoạch

Tên người thực hiện

Đánh giá tình trạng bệnh nhân ( so với mục tiêu và yêu cầu chǎm sóc)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài 2: CHĂM SÓC HÀNG NGÀY VÀ VỆ SINH CHO NGƯỜI BỆNH

1. Đại Cương

Khi con người bị đau ốm, sức đề kháng của cơ thể đối với ngoại cảnh cũng như đối với các loại vi khuẩn sẽ giảm đi. Nếu vệ sinh thân thể kém, vi khuẩn sẽ thâm nhập vào cơ thể qua da, niêm mạc, gây ảnh hưởng không tốt đến việc điều trị bệnh. Vì vậy cần phải giữ vệ sinh cho bệnh nhân thật tốt để góp phần vào việc phòng bệnh, tránh các biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra đồng thời rút ngắn thời gian điều trị. Người cán bộ y học phải biết và giúp đỡ bệnh nhân làm vệ sinh thân thể được tốt. Công tác vệ sinh cho bệnh nhân gồm có: sǎn sóc rǎng miệng, gội đầu, tắm rửa, vệ sinh hậu môn - sinh dục, giữ sạch sẽ chân tay.

2.Những kỹ thuật chǎm sóc, vệ sinh cho bệnh nhân

2.1. Chǎm sóc rǎng miệng. 

2.1.1. Mục đích:

- Giữ rǎng miệng luôn sạch để phòng nhiễm khuẩn rǎng miệng.

- Chống nhiễm khuẩn trong trường hợp có tổn thương ở miệng.

- Giúp bệnh nhân thoải mái, dễ chịu, ǎn ngon.

2.1.2. Chǎm sóc thông thường:

áp dụng cho những bệnh nhân tỉnh táo nhưng không đi lại được.

a) Chuẩn bị bệnh nhân:

- Làm công tác tư tưởng, giải thích cho bệnh nhân rõ.

- Đỡ bệnh nhân ngồi dậy, bỏ chân xuống giường hoặc cho nằm đầu cao, mặt nghiêng về phía cán bộ y học viên.

- Choàng khǎn bông qua cổ bệnh nhân.

- Đặt khay quả đậu dưới má bệnh nhân (Để hứng nước chảy ra) 

b) Chuẩn bị dụng cụ:

- Bàn chải đánh rǎng (bàn chải mềm).

- Kem đánh rǎng.

- Khǎn mặt.

- Cốc nước xúc miệng.

- Khay quả đậu. 

c) Tiến hành:

Trong khi sǎn sóc rǎng miệng nên giáo dục vệ sinh rǎng miệng cho bệnh nhân.

- Làm ướt bàn chải và bôi kem.

- Đưa nước và bàn chải cho bệnh nhân.

- Hướng dẫn bệnh nhân tự đánh rǎng: Chải hàm trên. hàm dưới, mặt ngoài rồi đến mặt trong (Hàm trên từ trên xuống, hàm dưới từ dưới lên).

- Cho bệnh nhân xúc miệng thật sạch.

- Lau miệng và cho bệnh nhân nằm lại thoải mái.

- Rửa sạch bàn chải, để bàn chải, khay quả đậu lên khay sạch.

2.1.3. Chǎm sóc đặc biệt:

áp dụng đối với bệnh nhân nặng, mê man, sốt cao, tổn thương ở miệng: gãy xương hàm, vết thương ở miệng. 

Nên quan sát tinh trạng rǎng miệng để chuẩn bị bệnh nhân và dụng cụ. Bệnh nhân có rǎng giờ nên tháo ra và làm vệ sinh hàm rǎng gid riêng.

a) Chuẩn bị bệnh nhân:

- Thông tin và giải thích cho bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân.

- Đặt bệnh nhân nằm, mặt nghiêng về một bên.

- Quàng khǎn qua cổ, đặt khay quả đậu một bên má bệnh nhân.

Nếu lưỡi đóng trắng, bôi glycerin và nước chanh 15 phút trước khi sǎn sóc. Môi khô nứt nẻ, xoa glycerin hoặc vaselin 15 phút trước khi làm.

b) Chuẩn bị dụng cụ

- Cốc đựng dung dịch sát khuẩn để xúc miệng.

Có thể dùng: Na tri clorur 9%o, oxy già tùy nồng độ; dung dịch bicarbonat 2%o; dung dịch borate de soude 2%o.

- Cốc nước chanh và dung dịch glycerin (2 phần bằng nhau để bôi môi miệng)

- Gạc, bông cầu, tǎm bông.

- Kẹp

- Đè lưỡi.

- ống bơm hút nếu bệnh nhân không hớp được nước.

- ống hút.

- Khǎn mặt.

- Khay quả đậu hứng nước chảy ra.

- Vaselin, glycerin.

- Túi giấy đựng bông bẩn. 

c) Tiến hành:

- Dùng kẹp gắp bông hoặc dùng tǎm bông nhúng dung dịch sát khuẩn chà rửa hai hàm rǎng. Dùng đè lưỡi mở rộng miệng bệnh nhân để rửa cho dễ.

- Rửa nhiều lần để miệng được sạch.

- Bệnh nhân tỉnh táo, sau khi chà rửa rǎng, đưa nước cho bệnh nhân xúc miệng. Bệnh nhân không xúc nhổ được, dùng ống bơm hút, bơm rửa cho sạch (bơm nước vào mặt trong má). Nếu bệnh nhân mê man không nên xúc miệng, chỉ dùng bông vừa ướt để rửa rǎng bệnh nhân.

- Lau khô miệng bệnh nhân..

- Dùng tǎm bông thấm glycerin và nước cốt chanh bôi trơn lưỡi, phía trong má và môi.

- Đặt bệnh nhân nằm lại thoải mái. 

d) Dọn dẹp và bảo quản dụng cụ:

- Rửa dụng cụ bằng xà phòng và nước sạch, lau khô, trả về chỗ cũ.

  1. e.      Gửi hấp những dụng cụ cần tiệt khuẩn.

e) Ghi hồ sơ:

- Ngày giờ sǎn sóc rǎng miệng.

- Dung dịch đã dùng.

- Tình trạng rǎng miệng của bệnh nhân.

- Phản ứng của bệnh nhân (nếu có).

- Trường hợp có vết thương ở miệng nên áp dụng vô khuẩn.

- Tên cán bộ y học viên thực hiện.

2.2. Rửa mặt: 

2.2.1. Mục đích: Rửa mặt cho bệnh nhân làm sạch mắt, mũi, tai, cổ, gáy cho bệnh nhân giúp họ thấy thoải mái, dễ chịu.

2.2.2. Chuẩn bị:

- Chậu nước sạch, ấm

- Khǎn mặt

- Xà phòng

- Dạo cạo râu nếu bệnh nhân nam có nhu cầu cạo râu.

- Bông để lấy gỉ mũi cho bệnh nhân có nhiều gỉ cứng.

- Glycerin để tẩm vào bông.

2.2.3. Tiến hành:

- Mang dụng cụ đến giường bệnh nhân

- Báo cho bệnh nhân việc sắp làm và hỏi nhu cầu của bệnh nhân. Hỏi thǎm bệnh nhân, động viên, an ủi để biết được ý muốn của bệnh nhân.

- Vò khǎn mặt và cuốn vào 4 ngón tay.

- Lau mắt cho bệnh nhân từ góc trong ra.

- Vò sạch lại khǎn cuốn vào tay.

- Lau mặt: từ trán, 2 má, quanh miệng, cằm, cổ, gáy.

- Vò lại khǎn lau mặt một lần nữa cho sạch (Nếu bệnh nhân cần cạo râu, phải quan sát và hỏi ý kiến bệnh nhân quyết định giúp bệnh nhân cạo râu).

- Lau ẩm vùng có râu, xoa xà phòng, làm mềm da và chân râu.

- Cạo râu cho bệnh nhân.

+ Lắp dao cạo chắc chắn.

+ Tay trái cǎng da bệnh nhân, tránh làm nhǎn da bệnh nhân vì dao cạo có thể làm xước da mặt của bệnh nhân.

+ Tay phải cầm dao cạo nhẹ nhàng, lần lượt cạo hai bên má, cằm, phần dưới mũi, cạo theo chiều mọc của râu. Thường thì cạo râu trước khi rửa mặt.

+ Vò khǎn ẩm lau sạch bọt xà phòng cho bệnh nhân.

- Vò sạch khǎn và phơi khô.

2.3. Chải đầu và gội đầu. 

2.3.1 Mục đích

- Chải và gội đầu nhằm mục đích làm sạch tóc và da đầu bệnh nhân để phòng chống các bệnh về tóc và da đầu đồng thời còn kích thích tuần hoàn ở đầu.

- Giúp bệnh nhân dễ chịu, thoải mái. Gội đầu tại giường được tiến hành khi bệnh nhân nằm lâu tại chỗ không tự gội được. Không được gội đầu cho những bệnh nhân đang trong tình trạng nặng, bệnh nhân sốt cao. 

2.3.2. Chải đầu

a) Chuẩn bị: Khǎn bông to, lược, cồn 50o.

b) Tiến hành.

* Bệnh nhân ngồi được:

- Đỡ bệnh nhân ngồi dậy, cán bộ y học quàng khǎn lên vai bệnh nhân.

- Cán bộ y học đứng bên cạnh để chải cho bệnh nhân, cần chải từng nắm tóc nhỏ một và chải từ đầu tóc và chân tóc để tránh co kéo tóc quá nhiều gây đau đớn cho người bệnh.

- Nếu tóc rối nhiều nên xoa cồn 50o cho dễ chải.

- Sau khi chải nếu tóc dài nên tết đuôi sam, vừa gọn, thoáng, vừa tránh đè lên tóc khi nằm.

* Bệnh nhân không ngồi dậy được:

- Để bệnh nhân nằm nghiêng lưng quay về phía cán bộ y học.

- Trên gối trải một khǎn bông to

- Rẽ tóc ra hai bên thành hai mái.

- Dùng tay trái nắm gọn và chắc mái phía trên tay phải trải từ đầu tóc đến chân tóc.

- Sau đó cho bệnh nhân trở mình để chải mái bên kia.

- Sau khi chải lấy khǎn bông ra, sắp xếp gối đệm ngay ngắn, thu lượm tóc rụng quấn gọn lại bỏ vào sọt rác và thu gọn dụng cụ.

2.3.3. Gội đầu:

a) Chuẩn bị dụng cụ:

- Chậu nước ấm.

- Ca múc nước.

- Xà phòng, chanh.

- Khǎn bông nhỏ.

- Khǎn bông to: 2 chiếc.

Có thể chuẩn bị máy sấy để làm khô tóc.

- Kim bǎng.

- Máng chữ U có bọc nylon để dẫn nước chảy xuống thùng đựng nước bẩn.

- Vỏ áo gối nylon hoặc mảnh nylon.

- Hai viên bông.

- Túi giấy.

- Lược chải tóc: lược thưa, lược mau.

- Thùng đựng nước bẩn. 

b) Tiến hành:

- Báo cho bệnh nhân biết việc sắp làm.

- Mang dụng cụ đến giường bệnh nhân.

- Luồn áo gối nylon vào gối, hoặc phủ nylon lên gối, giường bệnh nhân.

- Cho bệnh nhân nằm chéo trên giường đầu thấp hơn vai.

- Choàng một khǎn bông ở cổ, ngực và một khǎn che vai và lưng bệnh nhân.

- Nhét bông vào hai lỗ tai bệnh nhân.

- Chải tóc.

- Đặt máng chữ U dưới đầu bệnh nhân, đầu dưới của máng đặt gọn vào thùng đựng nước bẩn.

- Đổ nước ấm ướt đều tóc, xoa xà phòng.

- Chà sát khắp da đầu và tóc bông những đầu ngón tay, nhưng tránh làm sây xát da đầu bệnh nhân.

- Dội nước lên tóc nhiều lần cho sạch.

- Xoa nước chanh lên tóe rồi dội nước lại cho sạch.

- Lấy khǎn nhỏ lau mặt cho bệnh nhân, bỏ bông ở hai lỗ tai ra.

- Kéo khǎn quàng ở lưng, vai, lau tóc cho bệnh nhân hoặc dùng máy sấy, sấy tóc cho khô.

- Chải tóc bệnh nhân.

- Tháo máng cho vào thùng.

- Cho bệnh nhân nằm hoặc ngồi thoải mái.

- Sắp xếp lại giường, tủ đầu giường gọn gàng.

- Thu dọn dụng cụ.

c) Dọn dẹp và bảo quản dụng cụ:

- Rửa sạch tất cả dụng cụ, lau khô và mang về chỗ cũ.

- Dụng cụ là cao su, nylon, phải phơi ở chỗ mát. 

d) Ghi hồ sơ:

- Ngày giờ thực hiện.

- Tình trạng bệnh nhân, những quan sát về tóc, da đầu của bệnh nhân.

- Tên người thực hiện

e) Những điểm cần lưu ý:

Khi gội đầu cho bệnh nhân cần phải:

- Tránh cho bệnh nhân bị nhiễm lạnh.

- Tránh nước xà phòng vào tai, mắt bệnh nhân.

- Trường hợp đầu bệnh nhân có vết thương nên đắp gạc có chất trơn lên rồi gội, trước khi sǎn sóc bệnh nhân.

- Hàng ngày phải chải tóc cho bệnh nhân (nếu bệnh nhân tóc dài, phải tết tóc cho bệnh nhân).

2.4. Tắm cho bệnh nhân tại giường.

2.4.1. Mục đích:

Tắm cho bệnh nhân tại giường nhằm mục đích:

- Giữ da sạch sẽ, ngǎn ngừa và giúp sự bài tiết của da được dễ dàng.

- Đem lại sự thoải mái cho bệnh nhân.

Tắm tại giường được áp dụng trong trường hợp bệnh nhân không tự làm được như: bệnh nhân bị gãy xương, bệnh nhân liệt, mê man, nặng, bệnh nhân sau phẫu thuật.

2.4.2. Chuẩn bị bệnh nhân:

- Báo và giải thích cho bệnh nhân biết việc sắp làm.

- Giúp đỡ, hướng dẫn bệnh nhân những điều cần thiết, cho bệnh nhân đi đại tiểu tiện.

2.4.3 Chuẩn bị dụng cụ:

- Bấm móng tay.

- Chậu nước ấm.

- Hai khǎn bông to.

- Khǎn bông nhỏ.

- Bột talc - cồn.

- Quần áo sạch.

- Xà phòng.

- Khǎn đắp.

- Bình phong.

- Vải trải giường, áo gối sạch.

- Thùng đựng đồ bẩn.

- Bô dẹt.

2.4.4. Tiến hành:

- Đem dụng cụ đến giường bệnh nhân.

- Dùng bình phong che kín giường bệnh nhân.

- Đóng cửa sổ, tắt quạt (nếu có).

- Phủ khǎn đắp lên người bệnh nhân.

- Cởi quần áo bệnh nhân cho vào thùng đựng đồ bẩn.

- Kéo khǎn đắp, để lộ tay.

- Trải khǎn bông to dưới cẳng tay đến nách, dùng khǎn lau từ cổ tay đến nách bằng nước, xà phòng, lau lại bằng nước sạch rồi lau khô. Tắm hai tay như nhau: Động tác tắm phải dứt khoát, hạn chế nước nhỏ xuống giường.

- Lót khǎn bông, đặt chậu nước lên trên gần sát bệnh nhân, cho hai bàn tay bệnh nhân vào chậu nước rửa sạch lau khô. Có thể thay nước mỗi khi nước bẩn.

- Kéo khǎn đắp để lộ ngực, bụng. Tắm ngực và bụng. Lau khô, phủ khǎn đắp lên che kín.

- Đặt khǎn bông từ cẳng chân đến bẹn. Tắm cẳng chân, đùi. Lau khô.

- Lau rửa vùng hậu môn - sinh dục (xem thêm bài rửa âm hộ - âm đạo).

- Mang chậu và xà phòng xuống cuối giường, cho bệnh nhân nhúng chân vào chậu nước, dùng xà phòng rửa sạch, lau khô.

- Thay nước sạch.

- Cho bệnh nhân nằm nghiêng hoặc sấp, lót khǎn dài theo lưng. Tắm lưng từ thắt lưng trở lên. Tắm mông từ thắt lưng trở xuống. Sau đó lau khô.

- Dùng cồn, bột talc xoa bóp vùng lưng và mông trước, sau đó đến các vùng khác.

Cách xoa bóp: xoa nhẹ, ấn sâu xuống các bắp cơ, chú ý các ụ xương.

- Cho bệnh nhân nằm ngửa lại, mặc quần áo.

- Thay khǎn trải giường (nếu cần)

- Sắp xếp lại ghế, giường, tủ đầu giường ngay ngắn, sạch sẽ.

2.4.5. Dọn dẹp và bảo quản dụng cụ:

- Đồ vải gửi đi giặt.

- Rửa dụng cụ bằng xà phòng và nước. Lau khô. Trả về chỗ cũ.

2.4.6. Ghi hồ sơ:

- Ngày giờ tắm.

- Tình trạng bệnh nhân.

- Tên người thực hiện.



ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN


 

Bài 7: PHƯƠNG PHÁP CẤP CỨU BỆNH NHÂN NGỪNG HÔ HẤP - NGỪNG TUẦN HOÀN

1. phương PHáP éP TIM NGOàI LỒNG NGỰC.

1.1. MỤC ÐÍCH

ép tim ngoài lồng ngực là một thủ thuật dùng áp lực mạnh, liên tục và nhịp nhàng ép lên 1/3 dưới của xương ức. Tim được ép giữa xương ức và xương sống nằm ở PHÍA SAU, GIÚP CHO SỰ LƯU THÔNG MÁU giữa tim, phổi, não và các tổ chức khác của cơ thể đồng thời kích thích ÐỂ TIM ÐẬP LẠI KHI TIM NGỪNG ÐẬP.

ép tim thường có hiệu quả hơn nếu tiến hành kết hợp với hô hấp nhân tạo.

1.2. Kỹ thuật tiến hành.

1.2.1. Chuẩn bị dụng cụ:

Một tấm ván hoặc một khay lớn rộng hơn lưng của nạn nhân.

1.2.2. Tiến hành

a) Ðặt nạn nhân nằm ngửa trên một mặt phẳng cứng, chân cao hơn đầu. Nếu nằm trên giường đệm thì lót tấm ván hoặc khay dưới lưng.

b) Cấp cứu viên quỳ bên cạnh nạn nhân (ngang tim). (Cấp cứu viên đứng thán nằm trên giường).

c) Ðặt bàn tay trái lên 1/3 dưới xương ức, hướng sang bên trái, bàn tay phải úp lên mu bàn tay trái, 2 tay duỗi thẳng hai vai hướng thẳng vào hai tay. Phải xác định rõ vị trí trước khi đặt tay lên ngực nạn nhân.

Hình 182. Mặt cắt ngang của lồng ngực, tim được ép giữa xương ức và cột sống

d) Dồn sức nặng của toàn thân ép xuống lồng ngực của nạn nhân nhịp nhàng, liên tục 60-80 lần/1 phút. (H.183)

e) Khi phối hợp ép tim và thổi ngạt, cứ 5 lần ép tim thì thổi ngạt 1 lần. Phương pháp này cần có 2 người. (H.184)

f) Kiên trì ép cho đến khi tim đập trở lại. Khi cần thiết có thể thay người khác, nhưng phải đảm bảo liên tục.

g) Trong khi cấp cứu phải theo dõi sắc mặt, mạch, đồng tử của nạn nhân. Sau 60 phút tim không đập trở lại, đồng tử giãn to thì thôi.

h) Khi tim đã đập trở lại, toàn trạng ổn định, cho nạn nhân nằm thoải mái, đắp ấm và tiếp tục theo dõi mạch, nhịp thở của nạn nhân.

1.2.3. Ghi hồ sơ.

a) Tình trạng nạn nhân trước, trong và sau khi ép tim

b) Thời gian tiến hành

c) Tên người tiến hành

1.2.4. Những điểm cần lưu ý

- Cấp cứu ép tim ngoài lồng ngực phải được tiến hành ngay tức khắc, tại chỗ và liên tục.

- Trong khi tiến hành tay của cấp cứu viên không được nhắc rời khỏi lồng ngực nạn nhân (đề phòng sai vị trí tay) ép 80 lần/ 1 phút.

- Ðối với trẻ em từ 1 tuổi đến 8 tuổi chỉ cần dùng 1 tay ÉP TỪ 80-100 LẦN/1 PHÚT.

2. phươNG PHáP THỔI NGẠT.

2.1. Ðại cương.

Thổi ngạt là phương pháp cấp cứu nạn nhân ngừng thở đột ngột do nhiều nhân khác nhau gây nên: sập hầm, điện giật, trúng độc... nhưng tim vẫn còn đập.

Thổi ngạt được tiến hành bằng cách người cứu nạn thổi trực tiếp hơi của mình qua mồm người bị nạn.

2.2. Kỹ thuật

2.2.1. Dụng cụ

- Gạc miếng, khăn hoặc vải sạch

- Gối, chăn hoặc vải trải giường

2.2.2. Tiến hành

a) Làm thông đường hô hấp trên (H. 185)

- Ðặt nạn nhân nằm ngửa, đầu nghiêng sang một bên.

- Dùng một nút gạc chèn giữa 2 hàm răng phía má để miệng nạn nhân mở ra.

- Dùng ngón tay trỏ cuốn gạc móc đờm dãi, lấy hết ngoại vật, răng giả, nếu có.

b) Nới rộng quần áo, thắt lưng, cravat, áo lót phụ nữ.

c) Kê gối dưới vai để đầu ngửa ra phía sau (làm thông đường hô hấp)

d) Cấp cứu viên quỳ một bên ngang đầu nạn nhân, hoặc đứng nếu nạn nhân nằm trên giường.

e) Một tay đặt dưới cằm, đẩy cằm ra phía trước, lên trên. Tay kia đặt lên trán nạn nhân, ngón trỏ và ngón cái bịt mũi nạn nhân khi thổi vào.

f) Cấp cứu viên hít vào thật sâu rồi áp miệng mình vào miệng nạn nhân và thổi mạnh, đồng thời quan sát lồng ngực nạn nhân xem có phồng lên, xẹp xuống theo nhịp thổi không (H.186)

Phải đảm bảo miệng mình trùm kín lên miệng nạn nhân. Lúc bắt đầu thổi nên thổi tiếp 5 lần liền để phổi nạn nhân có nhiều oxy.

Nếu không thấy lồng ngực nạn nhân phồng lên trong khi thổi vào, phải kiểm tra lại tư thế của đầu và cằm, xem đường hô hấp có thông không.

g) Ngẩng đầu hít vào thật sâu đồng thời bỏ tay bịt mũi nạn nhân.

h) Tiếp tục thổi 15-20 lần/phút cho người lớn, 20-25 lần/phút cho trẻ em, 30-40 lần/phút cho trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh, thổi cho đến khi nạn nhân tự thở lại được. Khi cần thay đổi người khác cần phải duy trì động tác, không được để gián đoạn.

i) Lấy gối dưới vai ra, cho nạn nhân nằm thoải mái và đắp ấm.

j) Theo dõi sát mạch, nhịp thở và chăm sóc nạn nhân cho đến khi tình trạng ổn định.

Lau mồm, mặt cho nạn nhân.

2.2.3. Thu dọn và bảo quản dụng cụ

- Thu dọn gối, chăn hoặc vải trải gửi đi giặt.

- Ðổ bỏ gạc bẩn và những ngoại vật lấy ra từ nạn nhân.

2.2.4. Ghi hồ sơ

- Tình trạng nạn nhân trước, trong và sau khi thổi ngạt.

- Thời gian thổi ngạt

- Tên người thực hiện

2.2.5. Những điểm cần lưu ý

a) Kỹ thuật thổi ngạt cần được thực hiện ngay tức khắc, tại chỗ và liên tục.

b) Trong khi thổi ngạt phải đồng thời theo dõi mạch, đồng tử của nạn nhân để kết hợp đánh giá tình trạng nạn nhân.

c) Ðối với trẻ nhỏ: miệng của cấp cứu viên có thể trùm kín cả miệng và mũi của trẻ nhưng thổi với nhịp nhanh hơn và nhẹ hơn.

d) Luôn luôn đảm bảo đường thở được thông suốt.

3. phỐi hỢp ép tim và thỔi ngẠt

Khi xác định một bệnh nhân ngững tuần hoàn, người cán bộ y học cần làm theo các bước sau:

3.1. Ðể bệnh nhân nằm trên nền cứng.

3.2. Khai thông hô hấp.

- Ðể bệnh nhân nằm ngửa đầu tối đa

- Móc đờm, dãi, dị vật (răng giả) trong miệng bệnh nhân.

3.3. Dùng nắm đấm bàn tay đấm 5 lần vào giữa điểm 1/3 dưới xương ức với độ cao tay đấm 50cm. Ngay sau khi đấm, bắt mạch bẹn hoặc cổ nếu thấy có mạch thì đấm tiếp tục (thay ép tim) với tần số 60-80 lần/phút.

3.4. Thổi ngạt (hoặc bóp bóng ambu) tần số 15-20.

3.5. Phối hợp giữa ép tim và (bóp bóng) thổi ngạt:

3.5.1. Phương pháp chỉ có 1 người: thổi ngạt 2 lần rồi ép tim 15 lần; thổi ngạt 2 lần, ép tim 15 lần. Làm như vậy ép với tần số 80 lần/phút.

3.5.2. Phương pháp 2 người: 1 người thổi ngạt, 1 người ép tim phối hợp nhịp nhàng sao cho ép tim và thổi ngạt không được tiến hành cùng một lúc. Cứ 5 lần ép tim 1 lần thổi ngạt. Tần số ép tim 60-80 lần/phút.

Thời gian cấp cứu: nếu xử trí đúng quy cách mà tim không đập lại, đồng tử giãn to sau 60 phút, ngừng cấp cứu.



 

Mục lục

YKHOANET - Website Y Khoa Việt Nam


ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN


 

CẤP CỨU MỘT SỐ TAI NẠN ĐƯỜNG HÔ HẤP

1. ngạt

Ngạt là một tình trạng nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong vì khi bị ngạt thì các tổ chức tế bào không được cấp đủ oxy. Khoảng thời gian này sẽ kéo dài hơn nếu nhiệt độ trung tâm của cơ thể thấp hơn bình thường. Ví dụ như trong trường hợp ngâm trong nước lạnh. Do vậy khi bị ngạt phải được tiến hành cấp cứu ngay.

1.1. Nguyên nhân gây ngạt

1.1.1 Do đường thớ và phổi bị ảnh hưởng.

Ðường thở bị tắc nghẽn do tụt lưỡi ở MỘT NẠN NHÂN BẤT TỈNH, HOẶC DO THỨC ăn, chất nôn, hoặc dị vật khác lọt vào đường thở, hoặc do sự sưng nề các TỔ CHỨC Ở HẦU HỌNG VÌ BỊ nhiễm khuẩn, bỏng, dị ứng, nhiễm độc.

Nghẹt thở vì đường hô hấp bị bịt kín do gối mềm, túi nhựa, vùi lấp.

- Dịch ở trong đường dẫn khí.

- Chèn ép khí quản do treo cổ hoặc thắt cổ

- Chèn ép lồng ngực do bị đất hoặc cát chèn, bị chèn ép vào tường, rào chắn hoặc sức ép từ một đám đông.

- Tổn thương thành ngực như trong trường hợp chính thức có mảng sườn di động

- Co giật làm cho hô hấp không đủ.

1.1.2. Nguyên nhân ảnh hưởng tới não hoặc thần kinh điều khiển hô hấp

- Ðiện giật

- Ngộ độc

- Liệt do tai biến mạch máu não hoặc tổn thương tủy sống.

1.1.3. Nguyên nhân làm ảnh hưởng lượng oxy trong máu

- Thiếu oxy trong không khí thở vào: Loại này thường gặp khi trong phòng chứa đầy khói khí đốt, hoặc trong các đường hầm, hầm nhỏ.

- Sự thay đổi áp suất khí quyển: khi lên cao hoặc lặn sâu.

1.1.4. Nguyên nhân làm cản trở sự vận chuyển và sử dụng oxy trong cơ thể.

Nguyên nhân cản trở sự vận chuyển oxy: Trong trường hợp ngộ độc oxyd carbon (CO).

Nguyên nhân cản trở sự sử dụng oxy: Trong trường hợp ngộ độc Cyanide.

1.2. Dấu hiệu và triệu chứng chung.

- Khó thở: Tăng về tần số và biên độ

- Thở dốc

- CÓ THỂ CÓ BỌT MÀU HỒNG Ở MIỆNG

- TÍM TÁI MÔI VÀ MÓNG TAY

- ý thức lú lẫn

- Có thể bất tỉnh

- Có thể ngừng thở

1.3. Xử lý cấp cứu

Mục đích: phục hồi và duy trì sự hô hấp bằng cách nhanh chóng làm mất nguyên nhân gây ngạt hoặc di chuyển nạn nhân thoát khỏi nguyên nhân gây ngạt. Tiến hành hô hấp nhân tạo và chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế nếu cần thiết.

Hành động cấp cứu:

- Làm mất nguyên nhân gây ngạt và mở thông đường thở

- Tiến hành hô hấp nhân tạo ngay nếu nạn nhân ngừng thở

- ĐẶT NẠN NHÂN Ở tư thế hồi phục khi tuần hoàn và hô hấp đã hồi phục trở lại.

- Kiểm tra tần số hô hấp, mạch và mức độ tỉnh táo 10 phút 1 lần.

- Chuyển nạn nhân lên cơ sở y tế càng sớm càng tốt.

2. CấP CứU NGHẹT THở.

Nghẹt thở xảy ra khi có sự cản trở hay tắc nghẽn ở bên ngoài ngăn không cho không khí đi vào đường hô hấp như trong trường hợp trẻ con còn bé, người bất tỉnh hoặc liệt toàn thân bị một chiếc túi nhựa áp vào mặt hoặc bị úp mặt trên một chiếc túi nhựa hay gối mềm hoặc trong trường hợp bị đất cát sụt lở vùi lấp.

Nghẹt thở cũng xảy ra khi bị nhốt hoặc bị kẹt một nơi kín.

2.1. Dấu hiệu và triệu chứng.

- Dấu hiệu và triệu chứng chung của ngạt

- CÓ BẰNG chứng các nguyên nhân gây ngạt, ví dụ đồ vật bịt kín mũi miệng...

2.2. Xử trí cấp cứu

2.2.1. Mục đích: Phục hồi sự cung cấp khí cho nạn nhân, hô hấp nhân tạo nếu cần thiết và chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế.

2.2.2. Hành động

- Nhanh chóng vứt bỏ vật gây cản trở hô hấp hoặc chuyểnnạn nhân tới nơi không khí trong lành.

- Nếu nạn nhân tỉnh táo và thở bình thường thì phải động viên an ủi làm cho nạn nhân tin tưởng và theo dõi sát nạn nhân.

- Ðặt nạn nhân nằm tư thế hồi phục nếu nạn nhân bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường.

- Nếu nạn nhân khó thở hoặc ngừng thở thì tiến hành hô hấp nhântạo ngay.

- Thu xếp chuyển nạn nhân tới cơ sở điều trị nếu nghi ngờ về tình trạng nạn nhân.

3. cấp cứu thắt cổ và bóp cổ

áp lực đè lên phía bên ngoài của cổ do thắt cổ hoặc bóp cổ ép đường thở lại chặn đường thở lại và chặn đường không khí vào phổi. Ðường thở bị ép lại có thể là do chủ ý (tự tử) hoặc do người khác hoặc do tai nạn như trường hợp cravat bị cuốn vào máy.

3.1. Triệu chứng và dấu hiệu

- Triệu chứng và dấu hiệu chung của ngạt

- Cổ và mặt bị ứ máu, tĩnh mạch nổi phồng.

- Nhìn rõ tang vật (dây treo cổ, cravat vẫn còn cuốn quanh cổ) hoặc tang vật bị lẫn trong các nếp da ở cổ (trường hợp dây thắt cổ là dây kim loại mảnh).

- Còn dấu vết quanh họng hoặc cổ nếu vật thắt đã được lấy đi.

Hình 187. Người vẫn còn đang bị treo

Hình 188. Cravat cuốn quanh cổ

3.2. Xử trí cấp cứu

3.2.1. Mục đích: Nhanh chóng tháo bỏ nguyênnhân gây thắt đường thở ngay cả khi không còn dấu hiệu của sự sống. Tiến hành cấp cứu hồi sinh ngay nếu cần thiết. Nhanh chóng chuyển nạn nhân tới cơ sở điều trị.

Hình 189. Ðỡ nạn nhân và cắt dây

3.2.2. Hành động

- Cắt bỏ ngay vật gây thắt quanh cổ. Nâng đỡ cơ thể nếu vẫn còn đang bị treo lơ lửng. Khi cắt dây thắt phải cắt ở phía đuôi của nút thắt để giữ lại nút thắt, đây là một bằng chứng có ích.

- ĐẶT NẠN NHÂN NẰM Ở tư thế hồi phục nếu nạn nhân bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường.

- Tiến hành hô hấp nhân tạo nếu nạn nhân khó thở hoặc ngừng thở và tiến hành hồi sinh tim phổi nếu nạn nhân ngừng tim.

- Chuyển nạn nhân tới cơ sở điều trị.

4. CấP CứU CHếT đuối

Chết đuối gây ngạt do nước tràn vào phổi hoặc do nước làm cho họng bị co thắt do đó chít hẹp đường dẫn khí (chết đuối khô) khi cấp cứu chết đuối không được để mất thời gian vào việc lấy nước ra khỏi phổi nạn nhân.

Tình trạng sung huyết phổi có thể xảy ra rất nhanh chóng nhưng tình trạng này có thể kéo dài vài giờ trước khi nhìn thấy rõ ràng (ho ra bọt màu hồng). Do vậy tất cả các trường hợp chết đuối sau khi sơ cứu xong đều phải chuyển ngay đến bệnh viện dù cho tình trạng nạn nhân có vẻ gần như bình thường.

Nếu nạn nhân đã bị ngâm lâu trong nước lạnh thì rất có thể bị hạ thân nhiệt, do đo trong trường hợp này phải chú ý giữ ấm cho nạn nhân.

4.1. Dấu hiệu và triệu chứng

- Có dấu hiệu và triệu chứng chung của ngạt.

- Có bọt màu hồng quanh môi, miệng và lỗ mũi.

4.2. Xử trí cấp cứu

Nhanh chóng lấy những vật gây cản trở hô hấp từ miệng nạn nhân ví dụ như rong rêu và tiến hành hô hấp nhân tạo ngay. Ngay cả khi còn ở dưới nước nước thì cũng có thể tiến hành hô hấp nhân tạo nếu cần thiết.

Kỹ thuật tiến hành như sau:

Nếu nước nông không ngập đầu người cứu: người cứu luồn một tay dưới lưng nạn nhân để nâng nạn nhân lên. Dùng tay kia đỡ đầu và bóp mũi nạn nhân rồi tiến hành hô hấp miệng – miệng.

- Khi đã có thể đặt nạn nhân trên một mặt phẳng chắc chắn, hãy kiểm tra lại hô hấp và nhịp tim của nạn nhân. Tiếp tục hồi sinh tim phổi hoặc hô hấp nhân tạo nếu cần thiết.

- Ðặt nạn nhân ở tư thế hồi phục ngay sau khi nạn nhân bắt đầu thở trở lại.

- Giữ ấm cho nạn nhân, nếu có điều kiện thì tháo bỏ quần áo ướt rồi lau khô và mặc quần áo khô hoặc đắp chăn hay khăn cho nạn nhân. Xử trí nếu có hạ thân nhiệt xảy ra (xem bài cấp cứu hạ thân nhiệt).

- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện ngay. Phải coi đây là trường hợp cấp cứu ưu tiên và phải theo dõi sát trong quá trình vận chuyển.

5. CấP CứU NGộ ÐộC OXYD CARBON.

Oxyd carbon là một khí không màu, không mùi, là một khí độc vì khi oxyd carbon được hấp thụ vào máu nó sẽ chiếm chỗ của oxy trong máu mà oxyd carbon được hấp thụ vào máu lại nhanh hơn nhiều so với oxy. Khí oxyd carbon đã được hấp thụ vào máu nó nhanh chóng gắn với hemoglobin của hồng cầu và tạo thành cacboxyhemoglobin là một hợp chất rất bền vững do vậy khi cấp cứu những nạn nhân bị ngộ độc oxyd carbon phải rất kiên trì vì phải hô hấp nhân tạo rất lâu mới đẩy được hết oxyd carbon ra khỏi cơ thể. Oxyd carbon được sinh ra chủ yếu từ sự đốt cháy dầu không hoàn toàn và từ ống xả của các động cơ chạy bằng xăng dầu. Sự nguy hiểm sẽ tăng lên nếu hệ thống ống xả bị hư hỏng hoặc khi để động cơ hoạt dộng trong một chỗ kín.

Chỉ vào một phòng đầy khí để cấp cứu nạn nhân khi biết chắc rằng không có sự nguy hiểm cho người cứu nữa và có thể thoát ra khỏi nơi đó một cách dễ dàng. Phải đảm bảo chắc chắn rằng người cứu có sự hỗ trợ từ phía sau để có thể thoát ra ngoài nhanh chóng khi cần thiết (dùng dây dài buộc một đầu vào lưng người cứu, đầu kia buộc vào bên ngoài hoặc do một người bên ngoài giữ. Trong những trường hợp có người ở BÊN NGOÀI GIỮ ÐẦU DÂY THÌ PHẢI QUY ÐỊNH TÍN HIỆU CẤP CỨU VỚI NGƯỜI Ở bên ngoài để khi người này nhận được tín hiệu cấp cứu theo quy định thì sẽ kéo dây để đưa người cứu ra khỏi phòng được nhanh).

5.1. Dấu hiệu và triệu chứng:

Dấu hiệu và triệu chứng chung của ngạt

- Người bị nạn có thể kêu nhức đầu

- Da có thể bình thường nhưng sẽ hồng rực lên (như màu hoa anh đào) khi nồng độ oxyd carbon trong máu tăng lên.

- Người bị nạn có thể rối loạn ý thức (lú lẫn, lộn xộn) và mất khả năng hợp tác.

- Có thể tiến triển dần đến bất tỉnh.

5.2. Xử trí cấp cứu

5.2.1. Mục đích

Cắt đứt nguồn thải ra khí và/hoặc cố gắng đưa nạn nhân ra khỏi nơi đó nếu không nguy hiểm cho người cứu. Tiến hành hồi sinh ngay nếu cần thiết thu xếp và chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện.

5.2.2. Hành động

- Mở các cửa ra vào và kéo nạn nhân tới nơi an toàn.

- Ðặt nạn nhân ở tư thế hồi phục nếu nạn nhân bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường.

- Nếu nạn nhân khó thở hoặc ngừng thở thì phải tiến hành hô hấp nhân tạo ngay.

- Kiểm tra nhịp thở, mạch và mức độ đáp ứng 10 phút một lần.

- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện càng sớm càng tốt.

6. cấp cứu sặc

Sặc thường xảy ra do nuốt phải một vật dẹt, rộng bản gây bịt kín một phần hay toàn bộ đường thở hoặc khi một vật gì lọt vào đường khí quản. Sặc còn có thể do sự co thắt cơ gây ra.

SẶC THƯỜNG XẢY RA Ở người lớn do nuốt vội thức ăn chưa được nhai kỹ. Còn đối với trẻ em sặc thường xảy ra vì trẻ hay đút các vật nhỏ vào miệng như đồng xu, hạt lạc... Ðối với trẻ còn bé nhiều khỉ bị sặc là do bột, thuốc viên...

Khi bị sặc hầu hết mọi người đều có khả năng ho bật dị vật ra ngoài ngay. Tuy nhiên cũng có trường hợp không thể tự ho bật ra được mà cần phải có sự hỗ trợ. Khi bị sặc nạn nhân phải được tiến hành cấp cứu ngay nếu không tình trạng ngạt sẽ xảy ra rất nhanh.

6.1. Triệu chứng và dấu hiệu.

Dấu hiệu và triệu chứng của ngạt:

- Nạn nhân không nói được, không thở được tay đang túm chặt cổ.

- Mặt và cổ bị sung huyết, các tĩnh mạch nổi phồng. Tím môi và miệng.

- Có thể bị bất tỉnh.

6.2. Xử trí cấp cứu

6.2.1. Mục đích

Lấy dị vật ra ngoài, nếu không lấy được thì phải tiến hành hô hấp nhân tạo. Nếu nạn nhân bất tỉnh hoặc nếu sặc kéo dài hoặc sự hồi phục không hoàn toàn thì phải chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện.

6.2.2. Hành động

Không được cố dùng tay để moi dị vật ra vì làm như vậy chỉ đẩy dị vật xuống sâu hơn mà thôi. Có hai cách để làm bật di vật ra ngoài.

a) Phương pháp vỗ vào lưng.

Ðối với trẻ sơ sinh trẻ con bé:

Người cứu cầm chắc 2 chân trẻ rồi dốc ngược trẻ sau đó khum lòng bàn tay vỗ nhẹ vào phần giữa 2 xương bả vai từ 1-4 lần.

Hoặc đặt trẻ em nằm sấp đầu dốc, ngực và bụng ở trên cẳng tay người cứu. Người cứu khom lòng bàn tay kia vỗ nhẹ vào phần giữa 2 xương bả vai từ 1-4 lần.

Hình 191. Cấp cứu với trẻ nhỏ

Hình 192. Cấp cứu sặc ở trẻ em

CẤP CỨU Ở TRẺ em:

Người cứu ngồi trên ghế hoặc quỳ một chân đặt trẻ trên đầu gối, đầu dốc xuống. Dùng một tay đỡ ngực trẻ, tay kia khum lại rồi vỗ vào phần giữa 2 xương bả vai 1-4 lần.

Hoặc có thể đặt trẻ nằm. sấp vắt ngang qua một cẳng tay hoặc đùi rồi khum lòng bàn tay vỗ vào phần giữa 2 xương bả vai từ 1-4 lần.

Hình 193. Cấp cứu đối với trẻ lớn hơn

Cấp cứu người lớn: Trường hợp nạn nhân còn tỉnh.

Người cứu đứng phía sau nạn nhân. Giúp nạn nhân cúi người về phía trước đầu thấp hơn ngực. Một tay người cứu đỡ ngực nạn nhân. Dùng gốc bàn tay đập mạnh vào phần giữa 2 xương bả vai 1-4 lần. Mỗi lần đập phải đủ mạnh để làm bật dị vật ra ngoài. Hoặc có thể cho nạn nhân cúi người bụng dựa trên thành ghế tựa, hai tay bám lấy mặt ghế. Người cứu đứng phía sau dùng gốc bàn tay đập mạnh vào phần giữa 2 xương bả vai từ 1-4 lần.

Hình 194. Cấp cứu đối với người lớn

Trường hợp nạn nhân bất tỉnh:

Ðặt nạn nhân nằm ngửa, làm thông đường thở và tiến hành hô hấp nhân tạo. Nếu không có kết quả thì lại xoay nạn nhân đối diện với người cứu, ngực dựa vào đùi người cứu, đầu nghiêng hắn về phía người CỨU. LÀM ÐỘNG TÁC ÐẬP VÀO LƯNG NHƯ MÔ TẢ Ở trên.

Chú ý:

Trước khi tiến hành động tác đập vào lưng thì phải kiểm tra miệng nạn nhân. Tháo răng giả hoặc móc bất kỳ một thứ gì còn vướng lại trong miệng nạn nhân. Sau mỗi lần đập lại kiểm tra miệng nạn nhân xem dị vật đã bật ra chưa. Nếu dị vật đã bật ra miệng, thì móc dị vật ra ngoài. Nếu chưa thì làm động tác cấp cứu.

Nếu nạn nhân ngừng thở hoặc bị tím tái thì phải tiến hành hô hấp nhân tạo giữa mỗi lần vỗ hoặc đập vào lưng. Trong một số trường hợp dị vật có thể di chuyển về phía trước (xuống sâu thêm) và lọt vào một nhánh phế quản chính do tác động của hô hấp nhân tạo. Trong trường hợp này sẽ chỉ có một bên phổi bị tắc và sự hô hấp có thể đảm bảo đầy đủ nhờ phổi bên kia. Nạn nhân sẽ được xử trí lấy dị vật ra tại bệnh viện.

b) Phương pháp ép vào bụng (thủ thuật Heimlich).

Nguyên lý của phương pháp này là sức ép vào phía trên của bụng sẽ đẩy cơ hoành lên trên và ép khí đọng ở trong phổi ra ngoài và như vậy có thể làm bật dị vật ra ngoài bằng "ho nhân tạo".

Hình 195. Vị trí đặt tay để ép vào bụng (điểm đám rối dương)

Ðối với người lớn và trẻ lớn:

Người cứu đứng phía sau nạn nhân, xiết chặt 2 tay với nhau ở điểm "đám rối dương" khoảng giữa rốn và mũi ức, điểm X Ở HÌNH VẼ. SAU ÐÓ KÉO MẠNH 2 TAY LÊN phía trên và vào trong. Lặp lại động tác vài ba lần.

Chú ý:

Nếu đặt tay sai vị trí có thể gây nên tổn thương các cơ quan ví dụ gan, lách, dạ dày... Nếu nạn nhân bất tỉnh thì cho nạn nhân nằm TRÊN MỘT MẶT PHẲNG CHẮC CHẮN, NGƯỜI CỨU QUỲ Ở phía đùi nạn nhân 2 chân dạng ra hai bên và đặt 2 gốc bàn tay chồng lên nhau lên trên điểm đám rối dương, sau người cứu ngả người về phía trước 2 tay vẫn giữ thẳng để ép vào bụng nạn nhân.

Ðối với trẻ em (trẻ dưới 6 tuổi):

Người cứu ngồi đặt trẻ ngồi trên lòng nấm một bàn tay lại đặt lên giữa bụng trẻ rồi ép vào phía trong và lên trên bụng trẻ với áp lực nhẹ hơn người lớn. Lặp lại động tác vài ba lần. Nếu trẻ bất tỉnh thì đặt trẻ nằm và làm động tác như người lớn nhưng chỉ dùng một tay và với áp lực nhẹ hơn.

HÌNH 196. ÉP bụng ở trẻ em

HÌNH 197. ÉP bụng ở trẻ còn bú

Ðặt trẻ nằm trên một mặt phẳng chắc chắn, đầu ngửa tối đa. Người cứu đặt 2 đầu ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) vào vùng giữa rốn và mũi xương ức rồi ấn nhanh với góc độ 45o (ấn xuống và về phía trước).

Lặp lại động tác vài ba lần.

Nếu thấy trẻ ho vì sự tắc nghẽn dường như đang di chuyển thì tiếp tục bằng phương pháp vỗ vào lưng.



 

Mục lục

YKHOANET - Website Y Khoa Việt Nam

 

 

Bài 8: Một số chế độ ăn theo trạng thái bệnh lý

1. Đại cương .

ǎn uống rất quan trọng đối với người lành và càng quan trọng hơn đối với người bệnh. Trẻ em ǎn đủ mới lớn được, người bệnh có ǎn mới có sức chống đỡ với bệnh và sức khỏe mới mau hồi phục. Tuy nhiên chế độ ǎn cho các loại bệnh có khác nhau, không theo đúng chế độ đó có thể làm bệnh lâu khỏi hay nặng thêm. Vì vậy một trong những nhiệm vụ của người cán bộ y học là phải hướng dẫn người bệnh ǎn uống theo đúng y lệnh.

2. Một số chế độ ăn bệnh lý .

2.1. Chế độ ǎn hạn chế sợi và xơ

2.1.1 Chỉ định:

- Bệnh nhân loét dạ dày, tá tràng

- Viêm ruột

- Một số bệnh khác có tổn thương đường ruột (cọ xát kích thích niêm mạc gây đau chảy máu, lên men chua, sinh nhiều hơi).

2.1.2. Nên tránh các thức ǎn

- Đậu đỗ các loại (đậu xanh, đậu đen, đậu trắng, v.v...)

- Sắn, ngô, khoai phơi khô.

- Cá rán, khoai rán, thịt nguội có nhiều gân, sụn

- Rau, dưa

- Hoa quả có nhiều bã: dứa, lê, táo

2.1.3 Các chế độ ǎn.

- Hạn chế tuyệt đối: chỉ ǎn sữa, cháo bột.

- Hạn chế vừa phải: cho ǎn sữa, cháo, bột, trứng, khoai nghiền.

- Hạn chế ít: thêm thịt động vật non, chọn miếng nạc (bỏ bì, gân, bạc nhạc), bǎm nhỏ hầm nhừ, rau non.

2.2. Chế độ ǎn hạn chế chất béo.

2.2.1 Chỉ định:

- Bệnh về gan, mật (viêm túi mật, sỏi mật, tắc ống dẫn mật)

- Bệnh về gan (viêm gan, suy gan)

- Cao huyết áp.

2.2.2 Chế độ ǎn chủ yếu.

Đạm, rau quả, đường

2.3 Chế độ ǎn hạn chế muối.

2.3.1 Chỉ định:

- Phù cấp, mạn trong các bệnh viêm cầu thận, thận nhiễm mỡ, suy tim các giai đoạn.

2.3.2 Nên tránh các thức ǎn có muối.

Cá bể, sữa bò, trứng, rau muống, cà rốt.

2.3.3. Các chế độ ǎn.

- Hạn chế muối tuyệt đối: Thức ǎn không cho muối và tránh những thức ǎn có muối, ǎn cháo đường, sữa đậu nành, rau cải luộc, nước hoa quả.

- Hạn chế muối tương đối: Nấu không cho muối nhưng được dùng thực phẩm có sẵn muối như thịt, trứng, sữa, rau muống.

2.4 Chế độ ǎn giảm protid.

2.4.1 Chỉ định: Urê huyết cao, đặc biệt trong viêm thận.

- Tǎng urê huyết cấp tính phải giảm protid xuống 20g đến 10 gam/1 ngày hoặc bỏ hắn protid.

- Tǎng urê huyết mạn tính 30g-40g/ngày hoặc cho protid gấp 3 lần urê thải ra.

2.4.2 Chế độ ǎn giảm protid thường dùng các thức ǎn loại có nhiều glucid như: bánh mì, khoai, nước quả, bơ và một ít thức ǎn loại có nhiều protid như: thịt, bột đậu nành.

2.5. Chế độ ǎn tǎng protid.

2.5.1. Chỉ định: Hồi sức sau mổ, trước mổ, suy dinh dưỡng

2.5.2 Chế độ ǎn:

- Mức thấp cho 1,5 gam protid/1kg cơ thể x 2 tuần

- Mức cao cho 2g protid/1 kg cơ thể x 2 tuần - Cho ǎn protid động vật và thực vật để dễ hấp thu.

2.6. Chế độ ǎn trong bệnh đái tháo đường:

Thường do nhược nǎng tuyến tụy nên rối loạn chuyển hóa đường: đường huyết cao và trong nước tiểu có đường.

2. 6.1 Nguyên tắc xây dựng chế độ ǎn:

- Đảm bảo vừa đủ số calo cần thiết, không nên cho quá 30 calo cho 1 kilogam cơ thể.

- Hạn chế glucid tới mức tối đa, cho bệnh nhân ǎn 100g gạo/1 ngày

- Tǎng protid 1 - 1,5g/kg cơ thể

- Lipid có thể cho như mức bình thường hoặc cao hơn một chút.

2.6.2. Thức ǎn thích hợp với bệnh đái tháo đường.

- Thức ǎn không có glucid: thịt, cá, trứng, đậu phụ

- Thức ǎn có rất ít glucid (khoảng 3%) rau tươi, cải, súp lơ, dưa chuột, bầu, bí, mǎng, xà lách, cà chua, giá đỗ, hành tỏi tươi, v.v...

Cho bệnh nhân ǎn thức ǎn trên, ngoài ra cho ǎn các loại ngũ cốc như gạo, khoai, sắn, mì, đường, các hoa qua ngọt đều là những thức ǎn cần phải kiểm soát chặt chẽ vì là những chất có tỷ lệ glucid cao.

2.7. Chế độ ǎn của bệnh nhân mổ

2.7.1 Trước mổ

- Xa ngày mổ: ǎn nhiều protid, glucid, nước, cho nhiều calo

- 2-3 ngày trước mổ: chế độ ǎn không có bã, giảm calo xuống 1/3 và không dùng sữa.

- Ngày mổ: Bệnh nhân nhịn ǎn, uống ít nước.

2.7.2 Sau mổ

- 3-4 ngày: Truyền dung dịch muối, đường, truyền máu hay huyết tương.

- Mổ ở ngoài đường tiêu hóa: uống ít nước chè loãng pha đường, nước rau, nước quả.

- Từ ngày thứ 3-4 trở đi (đã trung tiện):

+ Mổ ở ngoài tiêu hóa: ǎn lỏng, ít calo, ít protid, glucid, lipid, nhiều vitamin, muối khoáng, tǎng dần.

+ Mổ ngoài đường tiêu hóa: cho ǎn dần để thay thế tiêm truyền, thức ǎn lỏng tǎng dần calo và protid.

- Phục hồi sức khỏe: Chế độ ǎn bồi dưỡng với số calo tǎng dần từ 1600

đến 2000, 3000 calo, protid 1-1,5-2g/1 kg cơ thể.

Bài 9: Chǎm sóc bệnh nhân giai đoạn cuối, hấp hối và bệnh nhân tử vong

1. Mở đầu

1.1. Một số bệnh nhân khi vào các cơ sở y tế trong tình trạng ốm yếu có thể ở giai đoạn cuối của cuộc đời vì đôi khi cái chết xảy ra bất thình lình.

Trách nhiệm đầu tiên của người cán bộ y học là tạo sự thoải mái cho người bệnh tới mức có thể đáp ứng những nhu cầu về mặt cảm xúc của bệnh nhân và thân nhân

Vấn đề quan trọng cần nhớ là chǎm sóc bệnh nhân ở giai đoạn cuối cùng quan trọng như chǎm sóc bệnh nhân đang hồi phục. Vì như vậy là giúp cho bệnh nhân ở giai đoạn cuối cuộc đời được thanh thản trước cái chết.

Sự chết là rất đáng sợ, ở giai đoạn cuối cuộc đời bệnh nhân thường cảm thấy rất cô đơn tuyệt vọng, do vậy người cán bộ y học phải luôn luôn có mặt bên cạnh bệnh nhân để an ủi và giúp đỡ bệnh nhân.

Khi bác sĩ xác nhận bệnh nhân đã chết, ngoài việc đáp ứng yêu cầu của bệnh nhân và thân nhân theo phong tục tập quán, tôn giáo riêng, người cán bộ y học cần phải thực hiện các công việc cần làm khi bệnh nhân tử vong.

1.2. Trước khi bệnh nhân chết có nhiều diễn biến, thay đổi khác nhau theo 5 giai đoạn sau đây:

Hình 20. Giai đoạn cuối của cuộc đời bệnh nhân. (trang 65)

1.2.1. Sự từ chối:

Giai đoạn này bệnh nhân không chấp nhận cái chết, họ nghĩ điều này không xảy ra với họ mà nó xảy ra với người khác. Đây là phản ứng đầu tiên của bệnh nhân.

 

1.2.2. Sự tức giận:

Giai đoạn tức giận được thể hiện bằng nhiều cách, bệnh nhân có thể được biểu lộ bằng sự giận dữ với nhân viên bệnh viện hoặc người nhà vì một lý do nào đó.

Đây là sự phản ứng bình thường vì họ đang phản ứng với sự mất mát mà họ thấy từ trước.

1.2.3. Sự mặc cả.

Đây là giai đoạn người bệnh tìm cách mặc cả để có một kết quả khác, sự mặc cả này có liên quan đến tội lỗi, bệnh nhân sẽ yêu cầu gọi thầy cúng, mục sư...

1.2.4. Sự buồn rầu:

Giai đoạn này bệnh nhân bắt đầu đau đầu vì cái chết sắp xảy ra đối với mình, về những nǎm tháng mình không còn được sống nữa. Bệnh nhân bắt đầu kề về những cảm nghĩ từ đáy lòng và mong muốn có sự lắng nghe của những người cán bộ y học và của thân nhân.

1.2.5. Sự chấp nhận:

Đây là giai đoạn tuyệt vọng, bệnh nhân đã đi đến sự chấp nhận cái chết. Sự giao tiếp với bệnh nhân thường khó khǎn, một số bệnh nhân trở nên trầm lặng, một số bệnh nhân trở nên nói nhiều. Đối với người hấp hối họ cần gặp người thân trong gia đình để nói lên nguyện vọng của mình trước khi chết "ví dự' những lời trǎng chối, di chúc, bố trí tang lễ.

2. CHǍM SóC BệNH NHÂN ở GIAI ĐOạN CUốI.

2.1. Những nguyên tắc chǎm sóc bệnh nhân:

- Chuyển bệnh nhân đến phòng riêng, tránh gây ồn ào, tiện cho việc chǎm sóc, không ảnh hưởng tới bệnh nhân khác.

- Giúp đỡ bệnh nhân về mặt tâm lý, sinh lý và tinh thần.

- Làm giảm đau và các triệu chứng khác hơn là tác động đến việc cứu chữa ở giai đoạn cuối của bệnh tật (H.21).

Hình 21. Thǎm hỏi động viên bệnh nhân (trang 67)

- Tận tình chǎm sóc cứu chữa bệnh nhân đến phút cuối cùng (H.22).

Hình 22. Tận tình chǎm sóc (trang 67)

- Đảm bảo cho bệnh nhân và thân nhân không bị đơn độc trong cơn khủng hoảng.

2.2. Đáp ứng những nhu cầu cho bệnh nhân:

2.2.1. Đáp ứng nhu cầu cá nhân:

Mặc dù bệnh nhân đang đi tới cái chết, người cán bộ y học vẫn phải thể hiện sự bình tĩnh, cảm thông và giành nhiều thời gian để tiếp tục chǎm sóc bệnh nhân theo thường quy như: Tắm, lau người, vệ sinh rǎng miệng cho bệnh nhân.

2.2.2. Đáp ứng nhu cầu về tư thế cho bệnh nhân:

Bệnh nhân hầu hết thích nằm ngửa, kê gối dưới đầu, dưới khoeo chân để cho bệnh nhân được thoải mái (H.23)

Hình 23. Kê gối cho bệnh nhân nằm thoải mái (trang 67)

2.2.3. Đáp ứng nhu cầu giao tiếp.

Đối với những bệnh nhân vẫn còn tỉnh táo, cán bộ y học viên luôn luôn ở bệnh cạnh an ủi bệnh nhân.

Không nói những điều liên quan đến bệnh tật của bệnh nhân để bệnh nhân nghe thấy, vì sự nghe của bệnh nhân là một trong những giác quan cuối cùng trước khi chết.

2.2.4. Đáp ứng nhu cầu về thị giác.

Phòng của bệnh nhân đảm bảo sạch sẽ, thoáng khí bởi vì khi sắp chết sự nhìn nhận của bệnh nhân sẽ tan dần đi, một cǎn phòng tối om làm cho bệnh nhân sợ hãi.

2.2.5. Đáp ứng nhu cầu về dinh dưỡng:

Bệnh nhân cần thiết ǎn lỏng, mềm, số lượng ít, ǎn làm nhiều bữa trong ngày, nếu bệnh nhân không ǎn được cho bệnh nhân ǎn bằng ống thông hoặc truyền dịch.

2.2.6. Đáp ứng nhu cầu vệ sinh rǎng miệng.

Bệnh nhân cần được chǎm sóc rǎng miệng, đặc biệt miệng bệnh nhân có thể bị khô vì bệnh nhân thở qua đường miệng.

Trong trường hợp này cán bộ y học có thể bôi mỡ glycerin vào môi bệnh nhân (bệnh nhân tiết nhiều đờm dãi phải hút đờm dãi cho bệnh nhân), nếu bệnh nhân có rǎng giả, cán bộ y học viên tháo rǎng giả ra làm vệ sinh xong lại lắp lại cho bệnh nhân (H.24).

Hình 24. Tháo rǎng giả làm vệ sinh (trang 68)

2.2.7. Đáp ứng nhu cầu về bài tiết:

- Bệnh nhân ở giai đoạn cuối có thể ỉa đái dầm dề, không tự chủ, nhiệm vụ của cán bộ y học là luôn giữ cho cơ thể bệnh nhân và giường bệnh được sạch sẽ

- Thay ga trải giường bất cứ lúc nào thấy cần thiết giúp cho bệnh nhân được sạch sẽ, dễ chịu.

2.2.8. Đáp ứng nhu cầu về oxy liệu pháp:

Có thể cho bệnh nhân thở oxy qua dường mũi hoặc miệng khi cần thiết (Chú ý làm vệ sinh mũi tạo cho bệnh nhân dễ thở).

2.2.9. Đáp ứng nhu cầu về tinh thần:

Tôn trọng và đáp ứng những nhu cầu về mặt tình cảm của bệnh nhân tuân theo tôn giáo và những yêu cầu tại thời điểm bệnh nhân chết (nếu có thể được).

2.3. Đối với thân nhân.

Mọi nhân viên nên tôn trọng và đáp ứng những nhu cầu về mặt tình cảm của thân nhân khi họ đến thǎm (trong điều kiện cho phép).

- Khi có người nhà bệnh nhân cán bộ y học viên không được ngừng các công việc của mình trong việc chǎm sóc bệnh nhân.

- Mọi công việc được thực hiện một cách nhẹ nhàng, nhanh gọn có hiệu quả.

- Không được chờ đợi đến khi gia đình bệnh nhân ra về mới chǎm sóc, tránh người nhà nghĩ rằng bệnh nhân sắp chết nên diều dưỡng viên thờ ơ với bệnh nhân.

- Gia đình bệnh nhân có thể hỏi rất nhiều điều và cán bộ y học viên có thể trả lời những vấn đề trong phạm vi được phép.

- Trong khi chǎm sóc bệnh nhân đôi khi cán bộ y học viên phải yêu cầu gia đình bệnh nhân ra ngoài, thông báo và giải thích cho thân nhân về việc mình cần làm.

Những người nhà đến và ở lâu với bệnh nhân, cán bộ y học viên có thể hướng dẫn dần giúp đỡ họ về nơi ǎn ở, các điều kiện sinh hoạt...

Khi tiếp cận với gia đình bệnh nhân, cán bộ y học viên luôn luôn nhẹ nhàng, lịch sự, nhã nhặn và cảm thông với họ.

3. NHậN BIếT DấU HIệU DẫN ĐếN Sụ CHếT.

Sự chết đến bằng nhiều cách khác nhau. Nó có thể xảy ra bất thình lình, bệnh nhân tưởng chừng như đang hồi phục hoặc có thể xảy ra sau một thời gian dài mà trong giai đoạn đó những chức nǎng của cơ thể bị suy sụp.

Sau đây là những dấu hiệu dẫn đến cái chết:

3.1. Sự lưu thông của máu giảm, khi sờ tay vào chân bệnh nhân cảm giác rất lạnh, mặt bệnh nhân nhợt nhạt.

3.2. Bệnh nhân có thể vã mồ hôi đầm đìa mặc dù cơ thể lạnh.

3.3. Bệnh nhân giảm trương lực cơ, cơ thể trở nên ủ rũ, thiếu sinh lực, quai hàm trễ ra, miệng bệnh nhân lệch, mũi vẹo, nói khó, nuốt khó dần dần mất phản xạ.

3.4. Mắt đờ dại không phản xạ khi đưa tay ngang qua mắt bệnh nhân (đồng tử giãn).

3.5. Sự thở chậm đi và khó thở hơn. Họng bị ứ đọng đờm, chất nhầy. Khi thở có thể gây ra âm thanh gọi là "tiếng nấc hấp hối".

3.6. Mạch bệnh nhân nhanh, nhỏ, rối loạn, khó bắt.

3.7. Trước lúc bệnh nhân ngừng thở, mạch sẽ mờ dần đi, lúc này không sờ thấy mạch bệnh nhân nữa.

3.8. Khi bệnh nhân sắp chết, cán bộ y học luôn có mặt bên cạnh bệnh nhân, phát hiện kịp thời các dấu hiệu và sự thay đổi về tình trạng của bệnh nhân. Báo cáo ngay cho cán bộ y học trưởng và bác sĩ biết mặc dù ở giai đoạn này cán bộ y học không thể làm được nhiều cho bệnh nhân nhưng sự có mặt thường xuyên sẽ là nguồn an ủi lớn đối với bệnh nhân và thân nhân.

4. THựC HIÊN CáC VIệC CầN LàM KHI BệNH NHÂN Tử VONG.

Khi bác sĩ xác định bệnh nhân đã chết, ngoài việc đáp ứng các nhu cầu của thân nhân người chết. Cán bộ y học viên chuẩn bị phương tiện để thực hiện các công việc cần làm tiếp khi bệnh nhân tử vong.

4.1. Chuẩn bị phương tiện.

- Bình phong

- Kìm Kocher, kéo

- Khay quả đậu, bông thấm nước, bông gạc.

- Bǎng dính, bǎng cuộn.

- Quần áo sạch, khǎn bông.

- Vải phủ, túi đựng đồ bẩn

- Phiếu bệnh nhân, hồ sơ bệnh án.

- Cáng hoặc xe đẩy.

4.2. Các bước tiến hành.

4.2.1. Yêu cầu thân nhân ra khỏi phòng, che bình phong (cho kín đáo, khỏi ảnh hưởng tới bệnh nhân khác).

4.2.2. Rút các ống thông, ống dẫn lưu, tháo nẹp bột, tháo bǎng cũ, thay bǎng mới, tháo các đồ trang sức trên người bệnh nhân (nếu có).

4.2.3. Đặt bệnh nhân nhẹ nhàng ở tư thế nằm ngửa, ngay ngắn.

4.2.4. Vuốt mắt, khép miệng bệnh nhân (H.25).

Hình 25. Vuốt mắt bệnh nhân.(trang 71)

4.2.5. Lấy bông không thấm nước nút các lỗ tự nhiên (2 lỗ tai, 2 lỗ mũi)

4.2.6. Cởi bỏ áo cũ, lau rửa sạch sẽ thi thể, mặc quần áo mới cho bệnh nhân (H.26).

Hình 26. Mặc quần áo cho bệnh nhân (trang 72)

4.2.7. Để cánh tay bệnh nhân dọc theo cạnh sườn, lòng bàn tay úp lên bụng, buộc 2 ngón tay cái lại với nhau, để 2 chân duỗi thẳng, buộc 2 ngón cái lại với nhau.

4.2.8. Đặt nhẹ nhàng thi thể bệnh nhân lên cáng, hoặc xe đẩy phủ vải lên toàn thân, gài phiếu bệnh nhân lên ngực, bên ngoài vải phủ.

4.2.9. Khiêng cáng hoặc xe đẩy ra khỏi phòng đóng cửa phòng lại, đưa thi thể bệnh nhân xuống nhà xác (lưu ý khi chuyển phải nhẹ nhàng).

4.2.10. Trở về phòng thu dọn đồ vải bẩn gửi xuống nhà giặt, báo cho hộ lý tẩy uế buồng bệnh.

4.2.11. Ghi chép ngày giờ bệnh nhân chết. Cần lưu ý trường hợp thân nhân không có mặt khi bệnh nhân chết, các tài sản của bệnh nhân phải được thu thập lại lập biên bản và có sự chứng kiến của đại diện bệnh nhân trong khoa, nếu bệnh nhân gửi tài sản ở phòng tiếp đón phải kiểm tra lại, khi thân nhân đến giao trả lại cho họ.

Bài 20: Sơ cứu bỏng

Có nhiều nguyên nhân gây nên bỏng như bỏng do lửa, do hơi nóng, hóa chất và các tia... Vết thương bỏng có thể làm chết người hoặc để lại những di chứng nặng nề như mất chức nǎng vận động, biến dạng mất thẩm mỹ.

Tình trạng của cơ thể khi bị bỏng phụ thuộc vào 3 yếu tố:

- Độ sâu của bỏng

- Diện tích của vết bỏng.

- Vị trí của vết bỏng trên cơ thể

1. Độ sâu của vết bỏng

Bỏng được phân loại theo độ sâu thành 3 độ:

1.1 Độ I: Bỏng bề mặt:

Trường hợp này chỉ lớp ngoài cùng da bị tổn thương làm cho da nơi bị bỏng đỏ ửng lên và đau rát do đầu mút đây thần kinh bị kích thích. Loại bỏng này thường lành hẳn sau 3 ngày.

1.2. Độ II: Bỏng một phần da:

Trường hợp này thì lớp biểu bì và một phần của lớp chân bì bị tổn thương, các túi phỏng nước được hình thành, nếu các túi phỏng nước được hìnhthành, nếu các túi phỏng nước vỡ ra sẽ để lộ một bề mặt màu hồng và cũng rất đau. Nếu được giữ sạch vết bỏng sẽ tự lành sau khoảng 1-4 tuần không cần điều trị gì mà cũng không để lại sẹo hoặc sẹo nhưng không đáng kể. Nhưng tổ chức da sau khi lành vết bỏng có thể đỏ trong một thời gian dài hơn. Nếu bỏng độ II bị nhiễm khuẩn thì lớp da dưới sẽ bị phá hủy và bỏng độ II chuyển thành bỏng độ III.

1.3. Độ III

Bỏng toàn bộ các lớp da: Toàn bộ các lớp da đều bị tổn thương bao gồm cả lỗ chân lông và tuyến mồ hôi. Vết bỏng trắng nhợt hoặc xám ìại, khô cứng và mất cảm giác (không đau) và các đầu nút dây thần kinh bị phá hủy.

Trong trường hợp bỏng rất nặng toàn bộ các lớp da thì lớp mỡ dưới da cũng có thể bị phá hủy và để lộ phần cơ.

Khi bị bỏng toàn bộ các lớp của da thì vết bỏng chỉ được lành dần từ phía bờ các vết bỏng và các vết bỏng rất dễ bị nhiễm khuẩn do vậy thời gian lành vết bỏng thường kéo dài rất lâu.

Độ sâu của một vết bỏng nhiều khi không đều nhau vì độ sâu của các vết bỏng phụ thuộc vào nhiệt độ, nồng độ hóa chất... và thời gian mà nhiệt độ hoặc hóa chất tác động lên da. Da có xu hướng giữ nhiệt và quần áo bị đốt cháy thành than làm cho vết thương trở nên nặng nề hơn, do đó việc sử dụng quá nhiều nước để rửa vết bỏng khi mà vết bỏng vừa mới xảy ra (trong vòng 30 phút khi xảy ra tai nạn) sẽ có tác dụng làm giảm độ sâu của bỏng.

2. diện tích VếT BỏNG.

Có nhiều cách để ước tính diện tích vết bỏng nhưng thông thường diện tích vết bỏng được tính toán bằng cách sử dụng quy tắc số 9.

ủa vết bỏng với các dịch của cơ thể phục thuộc vào phần. trǎm

ảnh hưởng của vết bỏng với các dịch của cơ thể phụ thuộc vào phần trǎm diện tích bỏng so với diện tích cơ thể. Bỏng càng rộng thì càng nguy hiểm hơn vì bỏng càng rộng càng gây mất nhiều dịch của cơ thể, gây đau nhiều hơn, dễ bị sốc và nhiễm khuẩn. Đối với người lớn nếu bỏng từ 15% trở lên và trẻ em từ 10% trở lên phải được coi là bỏng nặng và phải được chuyển tới bệnh viện.

Hình 215. Cách tính diện tích vết bỏng

3. Vị TRí VếT BỏNG TRÊN CƠ THể.

Bỏng ở những vùng khác nhau cũng có ý nghĩa rất lớn đối với tính mạng và quá trình hồi phục.

Ví dụ:

- Bỏng ở vùng mặt, cổ có thể gây phù nề chèn ép đường thở dễ bị sẹo xấu và sự biến dạng

- Bỏng ở mắt có thể dẫn đến mù

- Bỏng ở bàn tay hoặc vùng các khớp có thể dẫn đến co cứng, mất hoặc giảm chức nǎng hoạt động...

- Bỏng vùng lưng, vùng hậu môn sinh dục và những vùng gần hậu môn sinh dục thường có nguy cơ nhiễm khuẩn cao, kéo dài thời gian lành vết bỏng.

- Nếu nạn nhân hít phải khói, hơi nóng thì có thể gây bỏng đường hô hấp làm phù nề đường hô hấp, gây tắc nghẽn dẫn đến suy hô hấp và rất dễ dẫn đến viêm phổi...

4. CHǍM SóC CấP CứU BỏNG NóI CHUNG.

4.1. Dập tắt lửa đang cháy trên quần áo và làm mát vết bỏng.

Đây là việc làm trước hết để tránh cho nạn nhân bị bỏng sâu và rộng thêm.

- Dùng nước hoặc cát để dập tắt lửa, hoặc có thể dùng áo khoác, chǎn, vải bọc kín chỗ đang cháy để dập lửa (không dùng vải nhựa, ni lông để dập lửa).

- Xé bỏ phần quần áo đang cháy âm ỉ hoặc bị thấm đẫm nước nóng, dầu hay các dung dịch hóa chất nếu ngay sau đó không có nước lạnh để dội vào vùng bỏng.

- Bọc vùng bỏng chắc chắn rồi đổ nước lạnh lên. Với những vết bỏng ở táy có thể để cho nước từ vòi nước máy chảy trực tiếp lên vùng bỏng hoặc ngâm phần chi bị bỏng trong nước lạnh lên vùng bỏng nhưng phải thay thường xuyên 3-4 phút một lần cho đến khi nào nạn nhân thấy đỡ đau rát.

- Tháo bỏ những vật cứng trên vùng bỏng như giầy, ủng, vòng nhẫn trước khi vết bỏng sưng nề.

- Che phủ vùng bỏng bằng gạc, vải vô khuẩn nếu có hoặc bằng gạc hoặc vải sạch.

Chú ý: Đừng bao giờ:

- Dùng nước đá để làm mát vết bỏng hoặc ngâm toàn bộ cơ thể vào trong nước.

- Tháo bỏ quần áo bị cháy đã được làm mát

- Sờ mó vào vết bỏng

4.2. Phòng chống sốc.

- Đặt nạn nhân ở tư thế nằm

- Động viên an ủi nạn nhân

- Cho nạn nhân uống nước vì nạn nhân rất khát nhất là khi phải chuyển nạn nhân đi xa.

Chú ý:

- Chỉ cho nạn nhân uống nước khi nạn nhân tỉnh táo, không bị nôn và không có những chấn thương khác.

- Dung dịch cho uống: Nếu có điều kiện nên pha dung dịch sau để cho nạn nhân uông.

Pha vào 1 lít nước:

+ 1/2 thìa cà phê muối ǎn

+ 1/2 thìa cả phê muối na tri bicarbonat

2-3 thìa cà phê đường hoặc mật ong, nước cam, chanh ép.

Nếu không có điều kiện để pha dung dịch trên thì có thể cho nạn nhân uống nước chè đường, nước trái muối, đường hoặc oreson.

- Dùng thuốc giảm đau cho nạn nhân. Dùng aspirin

Khi dùng thuốc giảm đau phải chú ý nếu nghi ngờ nạn nhân có chấn thương bên trong thì không được dùng thuốc giảm đau, an thần mạnh.

- Nhanh chóng chuyển nạn nhân tới cơ sở điều trị càng sớm càng tốt.

4.3. Duy trì đường hô hấp.

Nạn nhân bị bỏng vùng mặt cổ, nhất là khi bị kẹt trong nhà bị cháy mà ở đó có dầu, đồ đạc, bàn ghế, đang bốc cháy... thì sẽ nhanh chóng bị phù mặt và cổ và các biến chứng của đường hô hấp do hít phải khói hơi. Những trường hợp này phải ưu tiên số 1 và phải được chuyển tới bệnh viện ngay. Nhưng trong khi chờ đợi phải theo dõi sát nạn nhân và phải đảm bảo sự thông thoát đường hô hấp (giữ tư thế đúng hoặc có thể đặt một canul vào mũi hoặc miệng nạn nhân, có trường hợp phải mở khí quản...)

4.4. Phòng chống nhiễm khuẩn.

Bản thân vết bỏng là vô khuẩn. Do vậy khi cấp cứu bỏng phải rất thận trọng để tránh vết bỏng bị nhiễm bẩn: không dùng nước không sạch để dội hoặc đắp vào vết bỏng và có điều kiện người cấp cứu nên rửa tay sạch và tránh động chạm vào vết bỏng.

4.5. Bǎng vết bỏng.

- Không dược bôi dầu mỡ, dung dịch cồn ngay cả kem kháng sinh vào vết bỏng.

- Không được chọc phá các túi phỏng nước

- Không được bóc da hoặc mảnh quần áo dính vào vết bỏng

- Nếu có điều kiện thì phủ vết bỏng bằng gạc vô khuẩn nếu không thì dùng vải càng sạch càng tốt.

- Vết bỏng sẽ chảy rất nhiều dịch nên trước khi dùng bǎng co giãn để bǎng vết bỏng lại thì phải đệm một lớp bông thấm nước lên trên gạc hoặc vải phủ vết bỏng.

Chú ý: Nếu không có bǎng co giãn thì chỉ được bǎng lỏng vùng bỏng để đề phòng khi vết bỏng sưng nề gây chèn ép.

- Nếu bỏng bàn tay thì có thể cho bàn tay vào một túi nhựa rồi bǎng lỏng cổ tay, làm như vậy sẽ cho phép nạn nhàn vẫn cử động được các ngón tay một cách dễ dàng vừa tránh làm bẩn vết bỏng.

- Nếu vết bỏng ở cổ tay hoặc chân thì trước hết phủ vết bỏng bằng gạc vô khuẩn hoặc vải sạch sau đó cho vào một túi nhựa. Có thể đặt nẹp cố định chi bị bỏng, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải nâng cao chi bị bỏng để chống sưng nề các ngón chân, ngón tay và phải khuyên nạn nhân vận động sớm các ngón chân, ngón tay nếu có thể được.

5. cấp cứu một số TRườNG HợP BỏNG đặC BIệT.

5.1. Bỏng điện

Điện giật hoặc sét đánh có thể gây bỏng rất sâu, một số bệnh nhân bị bỏng điện thì cơ thể cũng bị ngừng tim do dòng diện đánh vào tim do vậy phải tiến hành cấp cứu ngừng tim ngay nếu nạn nhân bị ngừng tim rồi mới sơ cứu vết bỏng sau. Nhưng trước khi tiến hành vết bỏng phải:

- Ngắt điện

- Nếu không thể ngắt điện được thì phải gỡ nạn nhân ra khỏi sự tiếp xúc với điện (phải dùng vật cách điện: Cao su, gậy gỗ khô để gỡ hoặc kéo nạn nhân).

- Khi sơ cứu vết bỏng xong phải nhanh chóng chuyển nạn nhân tới ngay bệnh viện vì những bệnh nhân bị điện giật rất dễ có rối loạn về tim mạch.

5.2. Bỏng hóa chất

Một số loại hóa chất như acid, kiềm mạnh hoặc iod, phospho dùng trong công nghiệp hoặc vôi mới tôi có thể gây nên tổn thương bỏng nặng và làm nạn nhân rất đau đớn; với những loại bỏng nặng và làm nạn nhân rất đau đớn với những loại bỏng do hóa chất phải:

- Rửa ngay, rửa liên tục bằng nước càng nhiều càng tốt, nếu không các tổ chức ở vùng bỏng sẽ bị hoại tử hoàn toàn.

Nếu xác định được nguyên nhân gây bỏng là do acid thì rửa vết bỏng bằng nước :ó pha bicarbonat. Nếu bỏng là do kiềm thì rửa bằng nước có pha giấm, chanh. Nhưng nếu bỏng mắt do hóa chất chỉ được rửa bầng nước bình thường. Nếu trong mắt vẫn còn những hạt vôi nhỏ thì phải rửa mạnh để làm bật những hạt vôi đó ra.

- Phải tháo bỏ ngay quần áo bị dính hóa chất. Khi tháo phải lưu ý bảo vệ tay của người làm động tác đó (không dùng tay trần để tháo).

- Nếu vết bỏng chảy nhiều máu thì phải xử trí như một vết thương chảy máu.

- Chuyển ngay nạn nhân tới cơ sở điều trị.

Cấp cứu bỏng thì đơn giản không rắc rối phức tạp nhưng đòi hỏi phải cấp cứu khẩn trương, linh hoạt. Người cấp cứu thành thạo có thể tránh được nhiều biến chứng nguy hiểm cho nạn nhân. 70% số ca bỏng mà được giữ sạch thì sẽ lành tự nhiên. Nhiều ca bỏng nặng, bỏng rộng nhưng được cứu sống và để lại di chứng không đáng kể nhờ có sự cấp cứu và chǎm sóc cấp cứu ban đầu tốt.

 

 

 

Đăng nhập

Thông tin liên hệ

Khoa Y sinh học
Trường Đại học TDTT TW I
Từ Sơn, Bắc Ninh

Điện thoại: 0241.2246128
Fax:02413832550

Trang liên hệ

Trực tuyến

 Khoa Y học TDTT hỗ trợ trực tuyến

    - 

 - Giải quyết thắc mắc về thông tin công bố, điểm thông báo

- Tư vấn học tập, chính sách chế độ với sinh viên

- Tư vấn hướng nghiệp, việc làm sau ra trường

Facebook: ysinhhoctdtt khoa 

https://www.facebook.com/ysinhhoctdtt.khoa

Email: khoaysinhhoctdtt@gmail.com

webside liên kết

Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh

http://www.dhtdtt1.edu.vn/

Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch

http://www.cinet.gov.vn/

Người dùng trực tuyến

Hiện đang có 0 users1 khách trực tuyến.