Đại cương về xương - khớp - cơ

<!--[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif]-->

<!--[if gte mso 9]> <![endif]--><!--[if gte mso 10]>

<![endif]-->

ĐẠI CƯƠNG VỀ XƯƠNG - KHỚP - CƠ

I - ĐẠI CƯƠNG VỀ XƯƠNG

1.1. Chức năng của xương: Có 4 chức năng chính:

* Vận động: Cơ thể vận động được là nhờ có xương, khớp, cơ. Xương là chỗ bám cho các cơ, khi cơ co hay duỗi sẽ làm cho xương chuyển động. Hoạt động của xương và khớp giống như một hệ thống đòn bẩy: xương là đòn bẩy, khớp là điểm tựa, cơ là lực phát động.

* Nâng đỡ: Bộ xương là bộ phận rắn tạo thành bộ khung nâng đỡ cơ thể, là chỗ dựa cho các cơ quan.

* Bảo vệ: Che chở và bảo vệ những cơ quan quan trọng nhất của cơ thể như hộp sọ bảo vệ não, cột sống bảo vệ tủy sống, lồng ngực bảo vệ tim, phổi ...

* Tạo máu: Tủy xương nằm trong ống tủy là nơi sản sinh ra hồng cầu và các dạng bạch cầu có hạt.

1.2. Thành phần số lượng: Bộ xương người gồm 206 xương phần lớn là đối xứng. Chia làm hai phần chính:

* Xương trục gồm :

- Xương sọ, xương móng và các xương nhỏ của tai: có 29 xương.

- Xương thân mình gồm cột sống: có 26 xương; xương sườn, xương ức: có 25 xương.

          * Các xương tứ chi: Chi trên: có 64 xương; chi dưới: có 62 xương.

1.3. Phân loại xương:

Mỗi xương đều có hình dạng khác nhau,dựa vào hình dạng người ta có thể chia thành bốn loại chính: như xương dài, xương ngắn, xương dẹt, xương vô định hình...

a. Xương dài: Gồm một thân và hai đầu xương. Thân xương có hình ống, rỗng ở giữa. Hai đầu xương được phình to để tăng diện tích tiếp xúc giữa hai xương với nhau. Loại xương này thường thấy ở tứ chi làm nhiệm vụ đòn bẩy.

b. Xương ngắn: Là những xương có kích thước ngang, dọc, trước, sau gần bằng nhau. Xương ngắn gộp lại với nhau có thể chịu được áp lực rất lớn, là nơi thực hiện các động tác khá phức tạp như: các xương cổ tay, cổ chân.

c. Xương dẹt: Là xương có bề mặt rộng, mỏng nhưng chắc chắn như xương bả vai, xương sọ, xương chậu. Nó thường làm nhiệm vụ bảo vệ các nội quan bên trong.

d. Xương có hình dạng hỗn hợp, phức tạp: Gọi là xương vô định hình như các xương đốt sống, xương hàm trên, xương hàm dưới…

1.4. Cấu tạo bên trong của xương.

Khi bổ dọc xương ta thấy xương gồm có ba phần: màng xương, chất xương và tủy xương.

a. Màng xương: Là một màng liên kết bọc ngoài miếng xương trừ mặt khớp. Màng xương gồm hai lớp.

* Lớp ngoài : Được cấu tạo bởi tổ chức liên kết sơi chắc, có tác dụng bảo vệ. màng ngoài có nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và các nhánh tận của các dây cảm giác.

* Lớp trong: Do tổ chức liên kết sơi chắc tạo nên. Trong lớp này có nhiều tế bào xương, nhiều mạch máu, thần kinh. Lớp này có tác dụng tạo xương và phát triển xương.

b. Chất xương: Nằm dưới lớp màng xương. Gồm hai loại xương đặc và xương xốp.

          * Xương đặc: Rất phát triển ở vùng thân các xương dài. Từ ngoài vào trong có ba lớp:

- Lớp ngoài: Có 5-7 lá xương xếp đồng tâm với tủy gọi là hệ thống cơ bản ngoài.

- Lớp trong cùng: Sát với ống tủy có cấu tạo tương tự với lớp ngoài gọi là hệ thống cơ bản trong.

- Lớp giữa: Dày nhất gọi là lớp đơn vị xương gồm các hệ thống Have đặc. Mỗi hệ thống Have là một khối hình trụ được tạo thành do những lá xương đồng tâm lồng vào nhau quây quanh một cái ống nhỏ gọi là ống Have. Chen giữa các lá xương có các tế bào xương. Trong hệ thống Have có chứa mạch máu và thần kinh. Các ống Have của các hệ thống cạnh nhau được thông với nhau bởi những nhánh nối xiên.

* Xương xốp: Xương này phát triển ở đầu các xương ống và các xương ngắn, còn ở các xương dẹt thì xương xốp tạo thành một lớp mỏng nằm giữa hai bản xương đặc ở ngoài và ở trong.

Xương xốp được tạo thành bởi những lá xương ( bè xương) đan chéo vào nhau theo một hướng nhất định, đảm bảo khả năng chịu lực các nhất. Các lá xương khi đan chéo đã tạo ra nhiều hốc tủy lớn và thông nhau, ngăn cách nhau bởi những vách ngăn không hoàn toàn. Cấu trúc của xương xốp đảm bảo cho xương đủ nhẹ nhưng lại bền vững với độ cần thiết.

Sự sắp xếp các lá xương dày, mỏng, nhiều hay ít đều có liên quan tới khả năng chịu áp lực, lực xoắn vặn và lực kéo của cơ và dây chằng bám ở xương.Ví dụ đoạn trên xương chày chủ yếu sắp xếp theo phương thẳng đứng vì khi cơ thể chịu một lực tác dụng sẽ truyền tới xương đùi rồi xuống xương chày theo phương thẳng đứng. Từ mặt đất sẽ xuất hiện một phản lực truyền từ xương chày đến xương đùi cũng theo phương thẳng đứng hướng lên trên. Đoạn giữa của xương chày, bè xương rất ít, còn đoạn dưới bè xương cơ bản cũng sắp xếp theo phương thẳng đứng.

c. Tủy xương:

Nằm trong ống tủy, hốc tủy và cả trong các ống Have. Gồm hai dạng cơ bản:

* Tủy tạo huyết (màu đỏ): có nhiều ở phôi thai và trẻ sơ sinh. Loại tủy này có khả năng tạo huyết.

* Tủy mỡ (màu vàng):chứa nhiều tế bào mỡ, là nơi dự trữ mỡ của cơ thể. Tủy này có nhiều ở người lớn.

1.5. Thành phần hoá học và tính chất vật lí của xương

Thành phần hoá học của xương gồm 2 thành phần: chất vô cơ làm cho xương cứng rắn và chất hữu cơ làm cho xương dẻo dai.

Nhìn chung thành phần của xương tươi ở người trưởng thành gồm có: chất hữu cơ chiếm 28%, là một chất keo dính gọi chất cốt giao (osseine), chất vô cơ chiếm khoảng 72%. Trong đó chủ yếu là nước (chiếm khoảng 50%) và muối Canxi sấp xỉ 20%.

Tính chất vật lí của xương do thành phần hoá học của xương quy định. Chủ yếu được biểu hiện dưới hai phương diện: độ cứng và tính đàn hồi. Độ cứng của xương khá lớn chủ yếu là do muối Ca2+. Vật chất hữu cơ quy định tính đàn hồi của xương.

Tỷ lệ các thành phần chất hữu cơ và vô cơ thay đổi theo tuổi tác, giới tính và chế độ dinh dưỡng. Ở độ tuổi thanh thiếu niên: vận chuyển hữu cơ khá lớn tỉ lệ giữa hai loại vật chất sấp xỉ 1:1 như vậy độ cứng thấp, tính đàn hồi tốt, không dễ xảy ra chấn thương nhưng dễ biến dạng. Tới khi trưởng thành tỉ lệ giữa vật chất hữu cơ và vô cơ sấp xỉ 3:7, ở người cao tuổi hàm lượng vô cơ trong xương càng cao, tỉ lệ hữu cơ và vô cơ là 2:8, tính đàn hồi giảm khả năng bị chấn thương cao.

1.6. Quá trình sinh trưởng và phát triển của xương.

a. Sự phát sinh của xương: Có hai cách :

* Phát triển từ màng mô: Ở màng mô liên kết thông qua cốt hoá ở vài ba điểm của xương mà tạo thành xương ( VD: xương chậu, xương hộp sọ).

* Phát triển từ mô sụn: Mô sụn được cốt hoá mà tạo thành xương (VD: xương tứ chi).

b. Quá trình sinh trưởng của xương:  Được biểu hiện ở hai quá trình:

* Xương dày lên: Ở thời kì thanh thiếu nên màng xương khá dày, ở màng ngoài không ngừng tiết ra các tế bào trung mô làm cho xương dày lên. Khi trưởng thành xương dày lên là do màng mô cốt hoá tạo thành.

* Xương dài ra: Khi ở thời kì thanh thiếu niên giữa đầu xương và thân xương tồn tại lớp sụn. Thân xương không ngừng dài ra và không ngừng cốt hoá. Đến 12-18 tuổi đại bộ phận sụn ở đầu xương phát triển rất nhanh. Sau 18 tuổi xương dần dần ngừng phát triển. Nhìn chung ở nữ giới đến 22 tuổi, nam giới 25 tuổi thì toàn bộ sụn ở đầu xương cốt hoá. Đầu xương và thân xương liên kết thành một xương  hoàn chỉnh. Độ dài xương không tăng nữa. Phát triển chiều cao dừng lại là do quá trình sinh trưởng này kết thúc. Sinh trưởng của xương liên quan tới nhiều yếu tố chủ yếu là di truyền, tiết tố, vitammin và luyện tập TDTT.

1.7. Ảnh hưởng của luyện tập TDTT đối với hình dạng cấu tạo của xương

* Luyện tập trường kì có hệ thống và khoa học sẽ có ảnh hưởng đến hình dạng cấu tạo của xương.

Hình dạng cấu tạo của xương biến đổi để thích nghi bài tập, làm xương đặc dày lên, đường kính của xương tăng, điểm bám của cơ ở xương hằn lên rõ rệt. Sự sắp xếp bè xương làm cho trương lực, áp lực thay đổi và có quy luật.

Căn cứ vào những phát hiện nghiên cứu luyện tập wushu một cách có hệ thống có ảnh hưởng rất lớn đến bè xương, ở chân những vận động viên này bè xương của chân phát triển về độ rộng và độ dài một cách rõ rệt.

* Cùng với sự thay đổi về hình thái cấu tạo xương sẽ tăng lên về độ dày, độ cứng chắc, chống chấn thương xương, chống lại áp lực, và những xoắn vặn. Điều này ít nhiều cũng có tác dụng tốt đối với phát triển tố chất và thành tích luyện tập.

* Các môn thể thao khác nhau ảnh hưởng đối với xương cũng khác nhau.

Qua nghiên cứu thấy rằng :

- Xương chày các vận động viên thuộc nhóm nhảy thì thành bờ trước của xương dày lên rất rõ, còn vận động viên cử tạ thì thành bờ phía trong của xương dày lên rõ rệt.

- Đối vi vận động viên thể dục thân của xương bàn tay và của xương ngón tay phát triển. Còn vận động viên cử tạ đầu xương bàn tay và ngón tay khá to.

- Theo nghiên cứu phát hiện thấy rằng các hoạt động nhảy có ảnh hưởng khá lớn tới xương bàn chân và xương ngón chân, đường kính và độ dày thành xương bàn chân và đoạn gần xương ngón chân của vận động viên thuộc nhóm nhảy đều lớn hơn ở đại đa số các sinh viên đại học. Ở vận động viên phần lớn sinh viên đại học thuộc nhóm nhảy bờ phía trong xương bàn chân thứ II là dày nhất.

* Ở lứa tuổi thanh thiếu niên xương đang trong thời kí sinh trưởng và phát triển, trong thời kì này tiến hành luyện tập TDTT hợp lí và lao động thích hợp đối với xương có tác dụng rất tốt. Ngược lại, khi vận động luyện tập với cường độ quá lớn không thích hợp lại không chú ý nghỉ ngơi sẽ dẫn tới xương phát triển không bình thường.

* Tập luyện TDTT phải được tiến hành liên tục, tập luyện những môn mang tính nghệ thuật cao, rèn luyện một cách chuyên nghiệp và toàn diện. Nếu không những thay đổi tốt đẹp đạt được đối với cơ thể sau quá trình tập luyện sẽ dần dần mất đi. Luyện tập TDTT có thể duy trì tính đàn hồi ở xương khi tuổi già.

II - ĐẠI CƯƠNG VỀ KHỚP:

* Định nghĩa: Khớp xương là chỗ các xương tiếp xúc và liên kết với nhau.

* Phân loại: Sự phân loại khớp thường dựa vào:

- Hoạt động của khớp: Gồm có ba loại: khớp bất động, khớp động, khớp bán động. .

- Cấu tạo của khớp: Gồm có khớp sợi, khớp sụn, khớp hoạt dịch.

2.1. KHỚP BẤT ĐỘNG:

2.1.1. Khái niệm: Là khớp mà giữa các xương liên kết không có khoang khớp (ổ khớp) hoặc khe khớp mà các xương được dính chặt với nhau nhờ mô liên kết sợi hoặc sụn. Khớp này phạm vi hoạt động của khớp rất nhỏ hoặc không thể hoạt động được

2.1.2.Phân loại:

a. Khớp bất động sợi: Giữa các xương có các dây chằng, màng gian cốt hoặc các đường khớp. Căn cứ vào các mô liên kết khác nhau lại phân thành:

* Liên kết dây chằng: Ví dụ như dây chằng vàng giữa cung các đốt sống

* Liên kết màng: Ví dụ như màng gian cốt giữa giữa hai xương cẳng tay, giữa hai xương cẳng chân, màng bịt ở xương chậu.

* Liên kết có đường khớp: Tùy theo hình thể của đường khớp người ta phân ra: khớp răng, khớp vẩy, khớp nhịp, khớp mào

b. Khớp bất động sụn: Liên kết giữa các xưong là mô sụn, loại liên kết này có hai loại: tính tức thời và tính vĩnh viễn. Loại liên kết sụn có tính tức thời xuất hiện ở thời kỳ thanh thiếu niên, cùng với sự tăng lên về tuổi tác. Loại sụn này có thể bị cốt hóa thành xương như: liên kết của xương chậu, xương mu, xương ngồi, loại còn lại là loại liên kết có tính vĩnh viễn như các sụn ở giữa xương sườn với xương ức

c. Khớp bất động xương: Liên kết giữa các xương là do mô xương như khớp giữa các xương cùng

2.2. KHỚP BÁN ĐỘNG:

2.2.1. Khái niệm: Khớp bán động là khớp mà giữa các xương liên kết còn có khe khớp. Khớp này hoạt động kém linh hoạt, biên độ nhỏ. Đặc điểm chung của  khớp là chỉ có lớp sụn ở giữa chỗ tiếp xúc các xương.

2.2.2. Phân loại: Gồm hai loại:

* Khớp sụn sơ: Ví dụ khớp giữa thân các đốt sống, khớp mu

* Khớp sụn trong: Ví dụ như khớp giữa cán xương ức với thân xương ức, khớp giữa xương cùng với xương cụt.

2.3. KHỚP ĐỘNG:

2.3.1. Khái niệm: Là khớp mà giữa các xương liên kết có một khoang khớp hay ổ khớp để cử động được thuận lợi.

Khớp động có động tác tương đối rõ rệt và rộng rãi. Hầu hết các khớp ở chi đều thuộc loại khớp động

2.3.2. Cấu tạo của khớp động: Bất kỳ một khớp động nào cũng gồm có: diện khớp và các phương tiện nối khớp( bao khớp, khoang khớp và dây chằng)

a. Diện khớp:

Là nơi các xương tiếp xúc với nhau. Hình dáng các đầu xương tạo thành diện khớp bao giờ cũng đối chiếu nhau: Nếu một đầu xương lồi lên tạo thành chỏm thì đầu của xương kia sẽ lõm tạo thành hõm. Khi vận động các mặt khớp của các đầu xương sẽ cọ sát vào nhau, cho nên trên mặt của các diện khớp đều có một lớp sụn mỏng để làm giảm bớt ma sát khi vận động. Gồm có các loại sụn:

* Sụn bọc: Là một lớp sụn mỏng phủ bề mặt các diện khớp, có tác dụng làm chịu lực và đàn hồi tốt.

* Sụn viền: Là loại sụn sơ vây quanh các hõm khớp có tác dụng làm tăng bề mặt tiếp xúc với các diện khớp, làm cho áp lực các xương được dàn đều. Ví dụ: sụn viền quanh ổ chảo khớp vai, ổ cối ở khớp hông

* Sụn chêm: Là những tấm sụn xơ đệm vào giữa hai diện khớp để làm tăng độ thích hợp giữa các diện khớp. Ví dụ: sụn chêm ở khớp gối. 

b. Bao khớp:

Là một bao bám vào dìa ngoài chu vi các diện khớp. Bao khớp có hai lớp:

* Bao ngoài là bao xơ: Do tổ chức liên kết sợi chắc tạo nên, tùy theo chức năng của các khớp khác nhau mà độ dày mỏng khác nhau.

* Bao trong là bao hoạt dịch: Do tổ chức liên kểt sợi xốp tạo nên, lót toàn bộ mặt trong bao khớp. Bao trong có lớp tế bào nội mô tiết ra chất hoạt dịch là một dịch trong có màu vàng nhạt, mang tính kiềm, ở điều kiện bình thường hàm lượng chỉ có 0,3 - 2 ml. Nó cung cấp chất dinh dưỡng cho sụn, sụn chêm, đĩa khớp tăng khả năng hoạt động của khớp, giảm ma sát bề mặt khớp. Trong chất hoạt dịch có chất điện giải, đường và prôtêin.

c. Khoang khớp:

Luôn luôn có áp suất âm để làm cho khớp có độ bền vững chắc chắn.

d. Dây chằng:

Do tổ chức liên kết sợi chắc tạo nên có tác dụng tăng cường cho khớp, để hạn chế các cử động không đúng hướng. Có ba loại:

 Dây chằng phụ thuộc vào bao khớp hay dây chằng gần: Chính là những chỗ dầy lên của bao khớp tạo thành.

- Dây chằng không phụ thuộc vào bao khớp hay đây chằng xa: Nằm ngoài bao khớp.

- Dây chằng trong bao khớp: Nằm trong bao khớp nhưng ngoài bao hoạt dịch

2.3.3. Hoạt động của khớp:

Khớp có thể hoạt động theo ba trục quay cơ bản vuông góc với nhau  là:

- Trục phải trái: Thực hiện động tác gấp và duỗi

- Trục trước sau: Thực hiện động tác dạng và khép

- Trục trên dưới: Thực hiện động tác sấp và ngửa

2.3.4. Phân loại khớp:

a. Dựa vào hình thể của diện khớp có:

* Khớp phẳng: Ví dụ như: Khớp cùng vai đòn, khớp của các xương cổ tay, cổ chân.

* Khớp chỏm cầu: Ví dụ như: Khớp vai, khớp chậu đùi, khớp cánh tay quay.

* Khớp ròng rọc: Ví dụ như: Khớp cánh tay - trụ, khớp giữa các đốt ngón tay.

* Khớp trụ: Ví dụ như: Khớp quay – trụ gần, khớp đội trục.

* Khớp hình yên hoặc hình trứng: Ví dụ như: khớp giữa xương thang – đốt bàn tay I, khớp quay cổ tay.

b. Dựa vào số trục quay của khớp: Có thể phân thành ba loại:

* Khớp một trục: Là khớp hoạt động theo một trục. Gồm có khớp ròng rọc và khớp trụ.

- Khớp ròng rọc hay còn gọi là khớp bản lề: Diện khớp có hình ròng rọc, diện khớp còn lại có cấu tạo thích ứng. Khớp này hoạt động quanh trục phải trái trên mặt phẳng đứng dọc, thực hiện động tác gấp duỗi.

- Khớp trụ hay còn gọi là khớp xoay: Một diện khớp có hình trụ tròn, diện khớp còn lại có diện khớp vòng. khớp này quay quanh trục thẳng đứng trên mặt phẳng nằm ngang thực hiện động tác xoay.

* Khớp hai trục: Là khớp có thể hoạt động quay quanh hai trục vuông góc nhau. Gồm có khớp hình trứng hoặc hình yên:

- Khớp hình trứng hay khớp soan: Mặt khớp có hình một phần trái soan, khớp này có thể thực hiện động tác gập duỗi và dạng khép.

- Khớp yên: Hai diện khớp đều có hình yên, loại khớp này có thể thực hiện động tác gập duỗi, dạng khép và xoay vòng tròn.

* Khớp nhiều trục: Loại khớp này có thể hoạt động quanh ba trục vuông góc trên ba mặt phẳng. Gồm có khớp chỏm cầu và khớp hình phẳng.

- Khớp chỏm cầu: Là khớp có một đầu tròn được lắp vào một đầu lõm tương ứng. Nó có thể thực hiện được các động tác cơ bản: gập duỗi, dạng khép, xoay vào xoay ra và quay vòng tròn.

- Khớp phẳng: Đường kính của diện khớp khá dày, hai mặt khớp gần như phẳng hoặc hơi cong chỉ có thể thực hiện động tác xoay và trượt với biên độ rất nhỏ.

c. Dựa vào số lượng xương tham gia vào cấu tạo khớp có thể phân thành hai loại:

* Khớp đơn: Là khớp do hai xương tạo thành có một đầu và một hõm như khớp vai, khớp hông.

* Khớp phức tạp: Là khớp do nhiều xương tham gia cấu tạo thành khớp. Trong đó mỗi khớp nhỏ lại có trục hoạt động riêng biệt như khớp khuỷu, khớp gối

d. Căn cứ vào phương thức hoạt động của khớp có thể phân thành:

* Khớp độc lập: Là khớp chỉ có thể tiến hành hoạt động đơn độc như khớp vai.

* Khớp liên hợp: Là khớp mà sự hoạt động của khớp này kéo theo sự hoạt dộng của khớp kia như khớp thái dương - hàm dưới, khớp quay - trụ gần và xa.

2.3.5. Ảnh hưởng của luyện tập thể dục thể thao đối với hình thái cấu tạo của khớp.

Luyện tập thể thao có hệ thống có thể làm cho xương đặc ở diện khớp dày lên từ đó mà nó có thể chịu lực được tốt hơn. Thí nghiệm ở động vật chứng minh, luyện tập lâu dài làm cho lớp sụn của diện khớp dày lên. Sự dày lên của lớp sụn ở diện khớp kết quả của cơ chất và tế bào sụn hấp thụ dịch thể.

Sụn là một loại chất có tính đàn hồi, có những lỗ hổng, giữa các mô có chứa đầy dịch thể những dịch thể này có thể lưu thông trong mô sụn, đây là cách cung cấp dinh dưỡng quan trọng cho mô không có mạch máu chảy qua.

Thí nghiệm ở động vật còn chứng minh, hoạt động TDTT có thể làm cho gân cơ và dây chằng dày lên, sức mạnh của cơ xung quanh khớp được tăng cường, làm tăng thêm tính ổn định của khớp. Tính cố định của khớp tăng có tác dụng bảo vệ rất tốt, nhưng như vậy thường làm giảm biên độ hoạt động của khớp, luyện tập tính mềm dẻo một cách hệ thống sẽ làm cho tính co duỗi của cơ, gân, dây chằng quanh bao khớp tăng lên từ đó mà biên độ hoạt động của khớp lớn hơn. Cho nên khi tiến hành những bài tập phát triển sức mạnh nên kết hợp một lượng bài tập mang tính mềm dẻo như vậy làm cho hai tố chất sức mạnh và tính mềm dẻo đồng thời tăng. Tố chất dẻo phát triển có tác dụng điều hoà động tác, giảm chấn thương và phòng ngừa chấn thương có ý nghĩa rất quan trọng.

Đối với những môn thể thao khác nhau phát triển tính dẻo của khớp cũng khác nhau. Ví dụ bơi lội và thể dục có thể làm cho khớp vai, khớp khuỷu, khớp bàn tay, khớp bàn chân thêm dẻo dai, vượt rào hoặc nhảy cao tăng biên độ hoạt động của khớp hông, đối với thể dục nghệ thuật trượt băng nghệ thuật có thể làm cho biên độ hoạt động của cột sống tăng.

III - ĐẠI CƯƠNG VỀ CƠ:

3.1. Phân loại cơ:

Trong cơ thể có hai loại cơ: cơ vân và cơ trơn. Ngoài ra còn có một loại cơ đặc biệt gọi là cơ tim.

* Cơ vân ( cơ xương): Trong cơ thể có khoảng 600 bó cơ vân.

- Cơ vân bám vào xương, vào da đầu, mặt cổ, cơ của lưỡi.

- Các tế bào có hình trụ, nhiều nhân, có vân ngang đặc trưng.

- Cơ vân hoạt động dưới sự chỉ huy của thần kinh động vật nên vận động theo ý muốn của con người.

- Cơ vân co bóp nhanh, song chỉ có khả năng duy trì trong một thời gian ngắn, chóng mệt mỏi.

Ở người khỏe cơ vân chiếm 42% trọng lượng cơ thể. Trong cơ có75% nước, 25% các chất mỡ, đạm, đường và các muối khoáng.

* Cơ trơn: Đa số thấy ở động vật bậc thấp.

- Ở người thấy ở thành các cơ quan nội tạng như thành các động mạch, tĩnh mạch, thành ống tiêu hóa.

- Tế bào hình thoi, một nhân ở giữa, không có các vân ngang.

- Cơ trơn hoạt động dưới sự chỉ huy của hệ thần kinh thực vật, vận động không theo ý muốn của con người.

- Cơ trơn co bóp cơ chậm nhưng duy trì được lâu dài.

* Cơ tim : Cũng là cơ co không theo ý muốn, song tế bào lại có những vân chạy ngang, thuộc lại hợp bào, các thớ phân nhánh nối tiếp với nhau.

3.2. Cấu tạo của cơ vân:

a.  Đơn vị cấu tạo của cơ:

- Là các tế bào cơ hay sợi cơ: Gồm hàng triệu sợi cơ riêng rẽ gắn vào nhau nhờ các sợi mô liên kết. Sợi cơ vân là một tế bào hình trụ, đa nhân, chiều dài thay đổi từ 10 – 40µ, thậm trí tới 34cm, các sợi cơ xếp song song tạo thành từng bó, được bọc bằng bởi một loại mô liên kết.

- Mỗi sợi cơ có một màng bọc riêng gọi là màng trong cơ( màng nội cơ).    

Các sợi cơ họp lại để tạo thành bó cơ cấp một. các bó cơ cấp một họp lại để để tạo thành bó cơ cấp hai. Các bó cơ cấp hai họp lại để tạo thành bó cơ cấp ba. Nhiều bó cơ cấp ba họp thành bắp cơ. Bao bên ngoài mỗi bó cơ nhỏ là màng chu cơ. Bao bên ngoài mỗi bắp cơ là mạc (hay màng ngoài cơ).

b. Cấu tạo của một bắp cơ: Gồm có hai phần: bụng cơ và gân cơ

* Bụng cơ: Có các bó cơ cấp một, cấp hai, cấp ba. Trong các vách liên kết ngăn các cơ cấp một, hai, ba có các mạch máu, mạch bạch huyết, và tận cùng các dây thần kinh. Ngoài cùng là cân hay mạc bao bọc khắp bắp cơ. 

* Gân cơ: Nằm ở hai đầu bụng cơ. Một đầu bám vào xương gọi là đầu bám gốc (nguyên ủy). Đầu kia bám vào một xương khác gọi là đầu bám tận. Gân cơ được cấu tạo bằng sợi keo dầy đặc, là sự chuyển tiếp giữa các mô liên kết của cơ (như màng, mạc) và mô liên kết tạo thành gân bám vào xương cũng nhờ mối liên quan mô liên kết như vậy (liên tiếp với các sợi của cốt mạc).

3.3. Các cấu tạo phụ của cơ:

a. Cân hay mạc:

Là một tổ chức liên kết bao bọc bên ngoài một cơ, một toán cơ hoặc các cơ của một vùng. Mạc có thể phân thành hai lớp là mạc nông và mạc sâu.

* Mạc nông: Nằm ở nông, sát với lớp mỡ dưới da, do mô liên kết thưa tạo thành  nó bao bọc cả một vùng cơ, có tác dụng bảo vệ và giảm chấn động trong cơ.

* Mạc sâu: Nằm dưới lớp mạc nông, do mô liên kết mau tạo thành, mạc này bao bọc từng cơ riêng hoặc một toán cơ, tác dụng làm cho cơ co đúng hướng của nó và là điểm tựa vững chắc cho cơ hoạt động.

b. Các bao xơ của gân:

Các bao xơ là một bao hai tầng bao kín gân ở các ngón tay, ngón chân, cổ tay, cổ chân. Bên ngoài là tâng bao sợi, trong là bao hoạt dịch. Bao hoạt dịch lại được phân thành hai ống lồng vào nhau: dính chặt vào gân là lá tạng, tiếp nối là lá vách ở mặt trong lồng bao sợi. Giữa hai lá tạng và vách có một khoang kín trong chứa một lượng ít chất hoạt dịch. Nó có thể làm giảm ma sát giữa gân và bề mặt xương khi hoạt động. Có bao xơ bao quanh một gân cũng có bao xơ bao quanh hai hoặc ba gân.

c. Bao hoạt dịch:

Do tầng hoạt dịch của bao khớp chui ra ngoài tạo thành một túi dẹt gọi là túi thanh mạc, trong có chứa dịch nhờn bao quanh gân hoặc nằm giữa hai cơ, giữa cơ và xương hoặc giữa gân và xương. Tác dụng làm cho cơ, gân cử động dể dàng, không bị cọ sát vào nhau và vào các tổ chức ở xung quanh nó.

d. Xương vừng:

Do gân cốt hóa tạo thành xương nhỏ, thường nằm ở nơi gân bám vào xương. Nó có thể làm thay đổi góc độ nơi gân bám vào xương, làm tăng lực kéo của cơ. Xương bánh chè là một xương vừng lớn nhất của cơ thể.

3.4. Hình dáng của cơ:

Do vị trí và nhiệm vụ của cơ khác nhau nên hình dạng của cơ cũng khác nhau. Gồm có bốn loại:

a. Cơ dài: Phần lớn thuộc về các cơ ở tứ chi. Cơ có hình thoi. Khi co chiều dài của cơ ngắn lại, biên độ động tác tương đối lớn, duy trì trong một thời gian ngắn.

b. Cơ ngắn: Thường nhỏ và nằm ở tầng sâu, biên độ hoạt động yếu nhưng do có nhiều cơ tham gia đồng thời cùng một lúc để có động tác lớn.

c. Cơ rộng: Nằm ở phần nông của thân mình như cơ ngực, cơ bụng, cơ mông. Đặc điểm là động tác khỏe, thực hiện được nhiều động tác khác nhau.

d. Cơ vòng: Nằm ở xung quanh các hốc hoặc lỗ như hốc mắt, mồm...Khi co làm khép lại theo trục dọc sợi cơ.

3.5. Cách gọi tên cơ: Có bảy cách gọi tên cơ:

* Cách 1: Dựa vào vị trí của cơ. Ví dụ: Cơ ngực, cơ mông, cơ đùi.

* Cách 2: Dựa vào điểm bám của cơ. Ví dụ: Cơ ức - đòn – chũm.

* Cách 3: Dựa vào hình dạng của cơ. Ví dụ: Cơ vuông, cơ thoi( cơ trám), cơ thang, cơ delta.

* Cách 4: Dựa vào số đầu gân của cơ. Ví dụ: Cơ nhị đầu, cơ tam đầu, cơ tứ đầu.

* Cách 5: Dựa vào hướng của các cơ. Ví dụ: Cơ thẳng bụng, cơ chéo bụng, cơ vòng.

* Cách 6: Dựa vào chức năng của cơ. Ví dụ: Cơ gấp, cơ duỗi, cơ dạng, cơ khép.

* Cách 7: Dựa vào cấu tạo của cơ. Ví dụ: Cơ bán gân, cơ bán.

3.6. Ảnh hưởng của luyện tập thể thao đối với hình thái cấu tạo cơ.

a. Thể tích của cơ tăng lên: Thông qua luyện tập thể dục thể thao cho thấy diện tích của cơ tăng lên rõ rệt. Diện tích bó cơ tăng là do sợi cơ dày lên, hay là do số lượng sợi cơ tăng cho tới nay vẫn chưa có một thí nghiệm nào chứng minh rõ được điều này.

Luthi phát hiện luyện tập các bài tập sức mạnh sẽ làm tăng diện tích tuyệt đối của sợi cơ tăng 10%. Willia tiến hành thí nghiệm với hai chi trước của mèo cho tập những bài tập chịu gánh nặng trong vòng 34 tuần phát hiện thấy số lượng sợi cơ tăng rõ rệt. Số lượng và đường kính sợi cơ tăng được cho là có mối tương quan mật thiết với thời gian bài tập. Còn sợi cơ dày lên là do hàm lượng vật chất trong tế bào tăng và to ra.

b. Số lượng ti lạp thể trong sợi cơ tăng

Ti lạp thể là trung tâm cung cấp năng lượng của tế bào. Nó tham gia vào quá trình oxi hoá vật chất trong tế bào và tạo thành ATP. Trong các bài tập sức bền: chạy dài, đạp xe, số lượng ti lạp thể trong cơ nhanh và cơ chậm đều phát triển.    Thông qua thí nghiệm với lượng vận động lớn và vượt quá mức bình thường cho thấy khi lượng vận động tăng thì cấu tạo của sợi cơ dưới kính hiển vi cũng thay đổi rõ rệt, chủ yếu ở ti lạp thể.

Tính chất luyện tập thể thao không giống nhau ảnh hưởng tới ti lạp thể cũng khác nhau. Các bài tập sức bền có ảnh hưởng rõ nhất đối với ti lạp thể.

c. Các mao mạch quanh sợi cơ cũng tăng

Thí nghiệm chứng minh, hoạt động thể lực có thể làm cho các mao mạch trong cơ thay đổi về số lượng hoặc hình thái. Bình quân số lượng mao mạch ở giữa các sợi đều tăng lên sau quá trình tập luyện. Trong đó số lượng mao mạch của nhóm cơ chịu tĩnh lực lớn hơn nhóm cơ chịu động lực. Ở các bài tập tĩnh lực mao mạch chồng chéo lên nhau rõ rệt. Trong các nhóm cơ chịu động lực ở chạy hoặc bơi các nhánh mao mạch tập hợp lại với nhau, ảnh hưởng không mấy rõ rêt tới hình thái mao mạch.

d. Thành phần hoá học trong cơ biến đồi.

Luyện tập trong thời gian dài, thành phần hoá học trong có thể có những thay đổi, như hàm lượng glucoza, myosin, actin và nước trong cơ đều tăng. Điều này có lợi cho việc nâng cao lực co cơ và khả năng kết hợp O2, tăng cường hoạt tính của enzim ATP, phản ứng oxi hoá trong cơ được cải thiện.

Thí nghiệm ở động vật cho thấy, sau khi vận động bài tập có khối lượng lớn, hoạt tính của các enzim tác dụng lên sợi nhanh, sợi cơ chậm và sợi cơ trung gian của cơ tam đầu cánh tay ở chuột tăng lên rõ rệt, chứng tỏ năng lực của cơ ở điều kiện ưa khí được tăng cường

e. Làm biến đổi tính chất sinh lý, sinh cơ của cơ .

Luyện tập TDTT có thể làm tăng khả năng hưng phấn, tăng trương lực cơ, tăng hiệu suất sinh công của cơ. Cơ trở nên đàn hồi hơn, thể tích của cơ tăng, cơ dày lên, từ đó làm tăng sức nhanh, sức mạnh, sức bền và mềm dẻo của cơ.

 Nguyễn Văn Hướng

Đăng nhập

Thông tin liên hệ

Khoa Y sinh học
Trường Đại học TDTT TW I
Từ Sơn, Bắc Ninh

Điện thoại: 0241.2246128
Fax:02413832550

Trang liên hệ

Trực tuyến

 Khoa Y học TDTT hỗ trợ trực tuyến

    - 

 - Giải quyết thắc mắc về thông tin công bố, điểm thông báo

- Tư vấn học tập, chính sách chế độ với sinh viên

- Tư vấn hướng nghiệp, việc làm sau ra trường

Facebook: ysinhhoctdtt khoa 

https://www.facebook.com/ysinhhoctdtt.khoa

Email: khoaysinhhoctdtt@gmail.com

webside liên kết

Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh

http://www.dhtdtt1.edu.vn/

Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch

http://www.cinet.gov.vn/

Người dùng trực tuyến

Hiện đang có 0 users0 khách trực tuyến.