CHUYÊN ĐỀ SINH LÝ

CHUYÊN ĐỀ SINH LÝ

     1. 3. Bệnh choáng trọng lực trong hoạt động thể thao

Khái niệm bệnh choáng trọng lực là một loại bệnh cấp tính xảy ra sau khi chạy về đích bị ngã xuống và mất trí giác tạm thời trong thời gian ngắn.

          Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh choáng trọng lực: 

          Sau khi vận động viên về tới đích, đột nhiên giảm tốc độ hoặc đứng dừng lại ngay mà không  tiếp tục vận động nhẹ nhàng thì rất dễ bị choáng ngất. nguyên nhân của hiện tượng này là do khi vận động máu tập trung nhiều về cơ quan vận động, lượng máu lưu thông trong tuần hoàn được tăng lên rõ rệt (gấp 30 lần so với yên tĩnh). Nhờ các động tác làm các nhóm cơ phải luôn luôn co rút và thả lỏng, nên máu được lưu thông trong vòng tuần hoàn dễ dàng. Khi cơ bắp dừng hoạt động đột ngột, tốc độ máu lưu thông máu ở trong mao mạch và tĩnh mạch bị cản trở, lại thêm trọng lực bản thân của dịch máu, làm cho một lượng máu lớn tích tụ ở mạch máu chi dưới, lượng máu về tim giảm rõ rệt, lưu lượng máu qua tim thấp. Các yếu tố trên làm cho máu lưu thông lên não ít, kết quả là não bị thiếu máu, thiếu oxy đột ngột.

          Tóm lại choáng trọng lực là do thiếu máu não gây nên.

          Triệu chứng bệnh choáng trọng lực: 

          VĐV đột nhiên mất tri giác, choáng ngã xuống. Trước khi ngã cảm thấy toàn thân vô lực, hoa mắt, chóng mặt, tai ù, buồn nôn. Mặt tái xanh, vã mồ hôi, chân tay lạnh. Tim đập chậm yếu, nhịp thở chậm, đồng tử của mắt co lại. Những triệu chứng trên xuất hiện trong thời gian ngắn, cơ thể sẽ hồi phục dần. Nhưng sau đó còn những hiện tượng như : Nhức đầu, tinh thần không  được thoải mái, người cảm thấy nặng nề.

          Xử lý cấp cứu bệnh choáng trọng lực

          Đưa vận động viên  vào nơi thoáng mát (mùa hè) ấm áp (mùa đông). Đặt VĐV  nằm ngửa, gối đầu thấp, nới lỏng quần áo để máu dễ lưu thông. Lấy nước ấm lau người , dùng động tác xoa đẩy từ cẳng chân lên đùi để đẩy máu về tim. Châm cứu hoặc bấm huyệt Nhân trung, Bách hội, Hợp cốc, Dũng tuyền là có thể làm cho vận động viên tỉnh lại.

          Phòng ngừa bệnh choáng trọng lực:

          Trong khi tập luyện hoặc thi đấu phải luôn nhắc nhở vận động viên khi về tới đích không  được dừng lại ngay mà phải tiếp tục chạy với tốc độ giảm dần, hít thở sâu nhịp nhàng trong khoảng thời gian thích hợp để cho hệ thống tuần hoàn và hô hấp được hôì phục.

2. Bệnh  chuột rút trong tập luyện  thể thao.

          Khái niệm bệnh chuột rút là hiện tượng cơ bắp bị co cứng không chủ động duỗi ra được . Trong tập luyện Thể dục Thể thao thường gặp hiện tượng chuột rút ở cơ tam đầu cẳng chân, nhóm cơ gấp ngón bàn chân thứ nhất và nhóm cơ bụng.

          Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh chuột rút :

          Do bị lạnh : VĐV tập luyện trong những ngày thời tiết lạnh rét, nếu khởi động  không kỹ thì cơ bắp dễ bị chuột rút. Hay bị nhiều nhất ở các môn thể thao như : bơi lội , điền kinh và các môn bóng.

          - Trong cơ thể bị mất nhiều chất điện giải : tập luyện trong điều kiện trời nóng nực, oi bức, cơ thể ra mồ hôi nhiều làm mất nhiều nước và muối. Khi đó cơ thể sẽ bị rối loạn các chất điện giải và bị thiếu muối. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến chuột rút.

          - Trong tập luyện và thi đấu, việc cơ bắp phải liên tục co rút nhanh và thả lỏng không  đầy đủ hoặc quá ngắn, trong  một thời gian dài sẽ dẫn đến bị chuột rút. Nguyên nhân này thường gặp ở những vận động viên mới tập hoặc trình  độ tập luyện còn thấp.

          Tập luyện mệt mỏi, việc đào thải các sản phẩm trao đổi chất giảm, trong cơ bắp bị tích tụ lượng axit  lactíc lớn. Đây chính là nguyên nhân làm cho cơ bắp bị co cứng và gây ra hiện tượng chuột rút.

          Triệu chứng bệnh chuột rút :

          Cơ bị co cứng không  tự thả lỏng được, sờ vào nhóm cơ bị chuột rút thấy cứng nhắc và rất đau. Người bị chuột rút không  thể tiếp tục hoạt động được nữa. Nguy hiểm nhất là bị chuột rút ở dưới nước dễ dẫn đến tử vong vì tắc thở.

          Xử lý bệnh chuột rút:

          Khi cơ bị chuột rút không  nghiêm trọng thì chỉ cần kéo căng cơ bị chuột rút theo hướng ngược lại đến lúc cơ đó không  tự co lại nữa.

          Ví dụ : Khi cơ tam đầu cẳng chân bị chuột rút làm cho bàn chân duỗi thẳng ra. Cách sử lý là dùng lực đẩy lùi mũi bàn chân để gấp mu bàn chân lên cẳng chân. Sau đó dùng các kỹ thuật của xoa bóp để xoa bóp cục bộ cơ bị chuột rút. Chú ý sử dụng lực xoa bóp tương đối mạnh, cuối cung có thể bấm huyệt uỷ trung, thừa sơn, dũng tuyền.

          Nếu bị chuột rút ở dưới nước cần phải nhanh chóng đưa nạn nhân lên bờ, sau đó mới xử lý.

Phòng ngừa bệnh chuột rút

Cần khởi động kỹ trước khi tập luyện và thi đấu vì khởi đông làm  tăng nhiệt độ của cơ, tăng khả năng co rút và tốc độ các phản ứng hoá sinh của cơ, nâng cao khả năng đàn hồi của dây chằng và khớp, tăng độ linh hoạt và tiết dịch ở khớp.

     3. Bệnh đau bụng trong hoạt động thể thao

        Khái niệm bệnh đau bụng là một loại chứng bệnh thường gặp nhất trong quá trình tập luyện . Ở một số môn thể thao như : Chạy cự ly trung bình, chạy dài, maratong, đi bộ thể thao , đua xe đạp, bóng rổ ... số người bị nhiều hơn . Trong đó một phần ba nguyên nhân không  phải xuất phát từ bệnh, mà là do một vài yếu tố tập luyện Thể dục Thể thao  gây ra. Đại đa số khi yên tĩnh không  đau, trong tập luyện mới xuất hiện. Quá trình đau phụ thuộc vào lượng vận động, cường độ vận động và tốc độ vận động ...

          Một vài nhân tố có liên quan đến sự phát sinh ra đau bụng trong tập luyện Thể dục Thể thao là : tập luyện không  đầy đủ, trình độ tập luyện thấp; chuẩn bị khởi động không  tốt, không  kỹ, sức khoẻ không  đảm bảo, mệt mỏi, tinh thần căng thẳng, các động tác hoạt động kết hợp với thở không  nhịp nhàng; chế độ ăn uống không  hợp lý, thức ăn trong dạ dày chưa kịp tiêu hoá, tốc độ và cường độ vận động tăng quá nhanh hoặc quá đột ngột.

          Nguyên nhân bệnh đau bụng:

          - Trình độ tập luyện kém nên khi phải thực hiện hoạt động với cường độ cao, máu ở tĩnh mạch trở về tim bị cản trở, máu tập trung nhiều ở gan, lách làm cho màng gan và lách căng lên dẫn đến đau bụng.

          - Phương pháp thở không  đúng nhất là sự phối hợp giữa các động tác với nhịp thở không  tốt làm quan hệ của tuần hoàn - hô hấp và máu bị rối loạn. Máu đọng  lại nhiều ở tĩnh mạch và nội tạng dẫn đến đau bụng. Một yếu tố nữa là do thở quá gấp làm cho hoạt động của cơ hoành bị rối loạn, cơ hoành thiếu oxy, hoặc bị chuột rút gây nên đau bụng.

          - Chuẩn bị khởi động không  tốt hoặc bắt đầu chạy quá nhanh làm cho chức năng của hệ tiêu hoá không thích nghi (ống tiêu hoá bị thiếu máu, thiếu oxy gây ra rối loạn co thắt nhu động ruột) sinh ra đau. Sau khi ăn xong tập luyện ngay, thức ăn chưa kịp tiêu hoá, tích tụ lại ở dạ dày làm trướng bụng, căng  màng ruột  và màng dạ dày cũng dẫn đến đau bụng.

          Ngoài các nguyên nhân do tập luyện gây ra, còn có những nguyên nhân thường gặp khác do bệnh tật như viêm gan, các bệnh về đường mật (như viêm túi mật, sỏi mật ... ) bệnh loét đường tiêu hoá, viêm ruột thừa...

          Triệu chứng bệnh đau bụng :

          Trước tập luyện không thấy đau bụng. Khi khởi động và bước vào phần trọng động (phần cơ bản của buổi tập) thì thấy đau ở vùng hạ sườn phải, hạ sườn trái. Lúc đầu dùng ấn vào cảm thấy đỡ, sau đó dơn đau lại tăng lên và không  thể tiếp tục tập luyện được . Dừng tập luyện thì đơn đau giảm dần và cảm  thấy dễ chịu hơn. Nếu tiếp tục tập lại xuất hiện đau bụng.

          Xử lý bệnh đau bụng:

          Nếu xuất hiện đau bụng nhẹ, dùng tay ấn vào chỗ đau, giảm tốc độ vận động, thở sâu và nhịp nhàng trong thời gian từ 5 - 10 phút có thể khỏi. Nếu đau nặng quá thì phải dừng tập luyện , mời bác sĩ đến khám xác định nguyên nhân để điều trị cho đúng, có thể bấm huyệt : Túc tam lý, nội quan, tam âm giao ....

          Phương pháp phòng ngừa bệnh đau bụng :

          + Tăng cường huấn luyện toàn diện cho vận động viên

          + Trước khi tập luyện không  được ăn quá no, uống quá nhiều. Sau khi ăn no cần nghỉ ngơi từ 90 - 120 phút mới được tập.

          + Khi tập trước tiên cần phải khởi động kỹ càng, chú ý các động tác hoạt động phải kết hợp với thở nhịp nhàng và thở sâu.Chuẩn bị không tốt máu ứ đọng ở gan gây đau bụng.

  + Phải tuân thủ theo các nguyên tắc trong tập luyện Thể dục Thể thao nhất là nguyên tắc tăng tiến và đảm bảo chế độ huấn luyện chế độ sinh hoạt.Khi vận động đau ở vùng gan do gan xưng to là do VDV mắc thời kỳ đầu của huấn luyện .

 

 

1. Giải thích hiện tượng co cứng của cơ vân

- Do sự thiếu hụt ATP trong quá trình cơ hoạt động: ATP là  năng lượng cung cấp trực tiếp cho cơ co.Tạo cầu nối ngang giữa 2 sợi actin và miozin. Năng lượng cung cấp cho các cầu nối ngang để kéo các sợi actin trượt dọc theo sợi miozin.

- Do nồng độ can xi huyết giảm: Ion Ca++ có vai trò quan trọng trong việc co cơ,

Khi có luồng xung động thần kinh đến với cơ, Ion Ca++ nằm trong bể chứa của lưới cơ tương nhanh chóng đi ra ngoài vào giữa các tơ cơ.Ion Ca++ tự do sẽ kết hợp với tropozin ở sợi Actin, giải phóng vị trí để các cầu nối ngang của sợi miozin có thể gắn vào sợi actin, trung tâm Actin được giải phóng kéo ngạch miozin về phía trung tâm để tạo cầu nối

Cùng lúc đó Ion Ca++ tự do giải phóng hoat tính của men Miozin - ATP - aza, nó sẽ phân huỷ ATP ở đầu miozin để cung cấp năng lượng cho các cầu nối ngang kéo sợi Actin

- Do sự tích tụ axitlactíc trong cơ: làm tăng sự kết hợp bền vững Actomiozin gây ra hiện tượng co cứng cơ, một trong những nguyên nhân “ Chuột rút “ trong hoạt động TDTT.

- Do lượng vận động cao hơn khả năng chịu đựng của cơ thể: Kích thích thứ 2 rơi vào pha co rút của lần co trước. Trong tập luyện và thi đấu, việc cơ bắp phải liên tục co rút nhanh và thả lỏng không  đầy đủ hoặc quá ngắn, trong  một thời gian dài sẽ dẫn đến bị “ chuột rút”.

- Do khởi động không tốt: Khởi đông làm  tăng nhiệt độ của cơ, tăng khả năng co rút và tốc độ các phản ứng hoá sinh của cơ, nâng cao khả năng đàn hồi của dây chằng và khớp, tăng độ linh hoạt và tiết dịch ở khớp, Nói chung các tác động nêu trên làm tăng khả năng hoạt động của bộ máy vận động và ngăn ngừa chấn thương

2) Giải thích tại sao cơ tim có hiện tượng co cứng

Cơ tim có cấu tạo gần giống  cơ vân và tính chất giống cơ trơn :

          - Các sợi cơ tim có ít tơ cơ, thành phần cơ bản của tơ cơ là 2 sơi Actin và myozinvà l­ưới cơ tư­ơng trong cơ tim th­ưa.

- Cơ chế  phát động trong quá trình co của cơ tim là bằng cách đẩy i on Ca++ từ lư­ới cơ t­ương vào cơ tư­ơng . Cơ chế này cơ tim hoạt động giống cơ vân  song khác với cơ vân là i on Ca++ không chỉ từ l­ưới cơ tư­ơng vào cơ tư­ơng mà còn huy động Ca++ từ ngoài giúp cho sự co bóp của tim .

- Cấu tạo cơ tim  là một hợp bào, các sợi cơ trong tim có sự liên kết chặt chẽ thông qua hệ thống ống thông giữa các sợi cơ tim. Khi có xung động đến ngư­ỡng, cơ tim h­ưng phấn phát sinh xung động (hiện tư­ợng khử cực )theo tuần tự lan ra các sợi cơ tim có tốc độ như­ nhau ở các sơị cơ riêng rẽ nằm song song, nhờ vào hệ thống ống thông gây ra sự co đồng bộ các sợi cơ tim. Nh­ư vậy cả khối cơ tim có tính chất hoạt động giống nh­ư sợi cơ vân và có chung một cư­ờng độ ngư­ỡng .

- Cơ tim hoạt động tuân theo định luật "Tất hoặc không"(Định luât  Bowdich).Nội dung của đinh luật đối với một sợi cơ vân, một sợi thần kinh và 1 khối cơ tim . Nếu kích thích đến cư­ờng độ ngư­ỡng thì tổ chức có phản ứng trả lời lớn nhất, nếu kích thích với cư­ờng độ trên ng­ưỡng tổ chức đó có phản ứng trả lời nh­ư với c­ường độ ngư­ỡng. Nếu kích thích với c­ường độ dư­ới ngư­ỡng thì tổ chức đó không phản ứng trả lời .

Cơ tim có 1 đặc điểm quan trọng nữa là có khả năng tổng hợp axitlactic từ sản phẩm trao đổi đ­ường trong điều kiện thiếu ô xy thành glycogen để cung cấp cho cơ tim hoạt động, Bởi vậy cơ tim không chịu sự tác động của axitlăctic và sẽ không dẫn đến sự co cứng của cơ tim.

*Từ những đặc điểm về cấu tạo và tính chất của cơ tim khác với cơ vân nh­ư vậy dẫn đến cho chúng ta giải thích cơ tim không có hiện t­ượng co cứng.

 

 

Chuyển hóa Gluxid

Gluxit là nhóm các chất cấu tạo từ các nguyên tố cacbon, oxy và hydro, chúng rất phổ biến trong thiên nhiên, chứa nhiều trong các thực phẩm thực vật.Trong cơ thể, hàm lượng gluxid không quá 2% trọng lượng khô của cơ thể. Phần lớn lượng gluxid đó chứa gan và cơ dưới dạng glycogen.

     Gluxid là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu của cơ thể. Một gam gluxid được oxy hóa sẽ giải phóng 4,1 kcal, tức là tương đương lượng năng lượng khi oxy hóa protit và ít hơn mỡ 2 -3 lần. Song, khi oxy hóa gluxit  thì tiêu hao ít oxy  nhất.Vì vậy gluxid được sử dụng trong các điều kiện có nhu cầu cao về oxy như hoạt động cơ bắp.

       Khác với lipid, gluxid có thể cung cấp năng lượng khi phân hủy không có oxy(yếm khí). Ngoài ra gluxid là chất được huy động ra từ các kho dự trữ(gan, cơ) rất nhanh.

       Gluxid được phân giải từ thức ăn thành glucose trong đường tiêu hóa. Glucose được hấp thụ từ ruột vào máu rồi đi đến gan, ở đó tổng hợp thành glycogen.

 5% trọng lượng của gan là glycogen, đây là kho dự trữ gluxid quan trọng của cơ thể. Trong cơ thể, gluxid có thể được tổng hợp từ các axit béo, axid lactic và cac axitamin, các cơ cũng có khả năng dự trữ glycogen.Ở cơ vân, glycogen chiếm 1- 2% trọng lượng cơ.Tổng  dự trữ glycogen trong cơ thể vào khoảng 400 – 700 g.

     Quá trình phân giải gluxid để cung cấp năng lượng có thể chia thành 2 giai đoạn. Phân giải glucose thành axitlactic xảy ra không cần có sự tham gia của oxy được gọi là phân giải yếm khí(đưng phân). Khi có oxy, axid lactic tiếp tục phân giải thành sản phẩm cuối cùng là H2O và CO2 và được gọi là phân giải ưa khí(chu kỳ krebr). Các sản phẩm cuối cùng của chuyển hóa gluxid là H2O và CO2 được đào thải qua thở và bài tiết theo nước tiểu, mồ hôi.

      Nồng độ glucose bình thường trong máu luôn được duy trì ổn định ở mức 80 – 120 mg%. Nhiều hoặc ít hơn mức bình thường đó sẽ dẫn đến những rối loạn bệnh lý.

     Dự trữ gluxid trong cơ thể được huy động khi bắt đầu, đôi khi ngay từ khi mới chuẩn bị hoạt động cơ bắp, làm cho lượng glucose trong máu tăng lên.Trong hoạt động cơ bắp, glucose của máu được não sử dụng nhiều nhất, cơ tim cũng tiêu thụ một phần glucose của máu, các cơ vân tiêu thụ ít hơn, chúng chủ yếu sử dụng glycogen của bản thân để cung cấp năng lượng.Chỉ khi lượng glycogen của bản thân giảm dần thì cơ vân  mới sử dụng  glucose của máu.

     Nồng độ glucose trong máu sẽ được duy trì ở mức bình thường khi tiếp tục vận động trong một thời gian dài, sau đó, khi hàm lượng glycogen ở cơ và tim giảm thì dần dần hàm lượng glucose trong máu cũng giảm và khả năng vận động cơ sút kém đi. Nếu hàm lượng đường trong máu giảm thấp hơn 40 mg%.thì hoạt động của hệ thần kinh trung ương sẽ bị rối loạn. Hiện tượng này được goi là choáng do hạ đường huyết.

                       *Điều hòa cân bằng glucose máu

Bình thường, glucose máu khoảng 1 g/l(100 mg%.). Khi cơ thể sử dụng mạnh glucid (lao động nặng, hưng phấn thần kinh, sốt …) thì glucose máu có thể lên tới 1,2 - 1,5 g/l. Khi nghỉ ngơi, ngủ, glucose máu có thể giảm tới 0,8 g/l. Nếu vượt quá 1,6 g/l thì các tế bào thiếu năng lượng, có thể dẫn đến hôn mê. Bằng cơ chế điều hòa, cân bằng lượng glucid được cung cấp với lượng glucid tiêu thụ mà cơ thể người bình thường duy trì được glucose máu ở mức thích hợp từ 0,8 - 1,2 g/l. Hệ nội tiết và hệ thần kinh là những cơ quan trực tiếp điều hòa glucose máu.

*Vai trò điều hòa của nội tiết.

Một số nội tiết tố có tác dụng lên một số enzym chuyển hóa glucid nên ảnh hưởng đến mức glucose máu. Có hai nhóm đối lập nhau:

(1) Một bên là insulin làm giảm glucose máu.

(2) Một bên là một tập hợp gồm nhiều nội tiết tố và một số chất khác có tác dụng làm tăng glucose máu.  

       Trong điều hòa nồng độ glucose huyết người ta chia các hormon thành hai nhóm:

      A: Insulin (Làm giảm glucose huyết)

       B: Hệ đối kháng insulin (làm tăng glucose huyết) Bệnh tiểu đường có thể xảy ra khi insulin giảm chức năng hoặc khi hệ đối kháng insulin vượt trội hơn.

a) Insulin:

Do tế bào Beta của đảo tụy tiết có tác dụng làm giảm glucose máu nhanh và mạnh.

     Insulin làm glucose nhanh chóng vào tế bào và nhanh chóng được sử dụng (thoái hóa cho năng lượng, tổng hợp glycogen, tổng hợp lipid, acid amin):

- Hoạt hóa hexokinase làm glucose nhanh chóng vào tế bào.

- Tăng khả năng thấm ion kali và phosphat vô cơ vào tế bào, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phosphoryl hóa và sử dụng glucose.

- Trực tiếp chuyển glycogen synterase từ dạng không hoạt động sang dạng hoạt động để tổng hợp glycogen từ glucose.

- Ức chế một số enzym xúc tác tân tạo đường như pyruvat carboxylase.

- Gắn với thụ thể đặc hiệu trên màng tế bào đích, tạo nên chất trung gian (mediator) là oligoglycopeptid có tác dụng vận chuyển glucose vào tế bào.

- Làm giảm thoái hóa các chất có khả năng tạo ra glucose như: glycogen, lipid, protid.

b) Hệ đối kháng với insulin:

Có tác dụng làm tăng glucose máu.

- Adrenalin: kích thích tạo AMP vòng của tế bào đích, tăng hoạt hóa enzym phosphorylase ở gan làm tăng thoái hóa glycogen tạo glucose.

- Glucagon: tác dụng tương tự như adrenalin nhưng mạnh hơn và kéo dài hơn. Glucagon còn kích thích phân hủy mỡ do enzym lipase được hoạt hóa bởi AMP vòng.

- Glucocorticoid: ngăn cản glucose thấm vào tế bào (trừ tế bào não). Tăng hoạt hóa G-6-phosphatse làm tăng giải phóng glucose ở gan vào máu. Tăng tân tạo glucose từ protid.

- Thyroxin: tăng hấp thu đường ở ruột, tăng phân hủy glycogen.

 STH: tăng thoái hóa glycogen bằng cách ức chế enzym hexokinase, STH còn hoạt hóa insulinase.

- Insulinase và kháng thể chống insulin: trực tiếp hủy insulin (gặp trong một số trường hợp bệnh lý).

* Thần kinh

- Đường huyết tăng trong một số trường hợp hưng phấn vỏ não và hệ giao cảm (hồi hộp, xúc động, stress).

- Vai trò của vùng dưới đồi: hai trung tâm (A và B) ở vùng dưới đồi tham gia điều hòa đường huyết thông qua nội tiết tố.

+ Trung tâm A: Gồm những tế bào thần kinh, không có mặt insulin vẫn thu nhận được glucose từ máu. Trung tâm này đại diện cho các tế bào "không cần" insulin vẫn thu nhận được glucose như: tế bào não, gan, hồng cầu. Khi glucose máu giảm xuống dưới 0,8 g/l thì trung tâm A bị kích thích làm tăng tiết glucagon, adrenalin, ACTH, LMH (Lipid mobilising hormon) để tăng tạo glucose.

+ Trung tâm B: Đại diện cho tất cả các tế bào còn lại của cơ thể, "phải có" insulin mới thu nhận được glucose. Các tế bào loại này sử dụng được thểceton như là một nguồn năng lượng bổ sung quan trọng. Khi thiếu insulin, trung tâm B sẽ huy động mọi cơ chế nội tiết làm glucose máu tăng cao, đủ thấm vào tế bào nhờ sự chênh lệch lớn về nồng độ glucose trong và ngoài tế bào. Tuy nhiên nếu chỉ trông cậy vào sự khuếch tán nhờ nồng độ cao thì nồng độ này phải tăng gấp 4 lần bình thường mới đủ. Khi đó lượng glucose bị thận đào thải sẽ rất lớn (gặp trong bệnh tiểu đường do thiếu insulin).

Bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường đượcy văn mô tả từ thế kỷ XI với 4 triệu chứng chính:

Ăn nhiều

Uống nhiều

Đái nhiều

Gầy nhiều

Về sau nhờ quan sát thấy kiến bu vào bãi nước tiểu nên thêm triệu chứng "nước tiểu ngọt"

Nguyên nhân gây bệnh, quá trình phát sinh phát triển của bệnh rất phức tạp, vì vậy có tác giả gọi bệnh tiểu đường là: hội chứng tiểu đường

a) Đặc điểm của tiểu đường typ I.

- Đây là bệnh di truyền, phát hiện ở 0,2 - 0,5% số người trong quần thể nếu trong gia đình có cha hoặc mẹ mắc bệnh thì 8 - 10% con cái cũng mắc, nếu cả cha và mẹ mắc thì tới 40% số con mắc. Gen liên quan là HLA - DR3 và HLA - DR4, DQW8, còn gen kháng là HLA - DRW2, B7.

Tuổi xuất hiện khá sớm: Dưới 20, nếu theo dõi tỉ mỉ có thể phát hiện bệnh ở tuổi 11 hay 12 để điều trị sớm.

b) Tiểu đường typ II (không phụ thuộc insulin):

- Tuổi xuất hiện bệnh là 50 - 60, do vậy còn có tên tiểu đường người già. Triệu chứng không rầm rộ, nhiều khi chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn (kèm hoặc không kèm thuốc uống giảm đường huyết) là có tác dụng điều trị. Tên gọi khác là tiểu đường không phụ thuộc insulin.

- Không do cơ chế miễn dịch nhưng có thể có vai trò di truyền.

 

- Nồng độ insulin trong máu bình thường hoặc chỉ hơi thấp(số ít còn hơi cao nhưng các tế bào cơ thể không còn nhạy cảm với insulin nữa). Khi làm nghiệm pháp tăng đường huyết thì sự đáp ứng tiết insulin tỏ ra chậm chạp và không đủ mức (yếu).  Do vậy chế độ ăn điều chỉnh glucose máu để điều trị là quan trọng. 

 

 

 

Đăng nhập

Thông tin liên hệ

Khoa Y sinh học
Trường Đại học TDTT TW I
Từ Sơn, Bắc Ninh

Điện thoại: 0241.2246128
Fax:02413832550

Trang liên hệ

Trực tuyến

 Khoa Y học TDTT hỗ trợ trực tuyến

    - 

 - Giải quyết thắc mắc về thông tin công bố, điểm thông báo

- Tư vấn học tập, chính sách chế độ với sinh viên

- Tư vấn hướng nghiệp, việc làm sau ra trường

Facebook: ysinhhoctdtt khoa 

https://www.facebook.com/ysinhhoctdtt.khoa

Email: khoaysinhhoctdtt@gmail.com

webside liên kết

Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh

http://www.dhtdtt1.edu.vn/

Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch

http://www.cinet.gov.vn/

Người dùng trực tuyến

Hiện đang có 0 users0 khách trực tuyến.