NGÂN HÀNG CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN MÔN HỒI PHỤC TDTT

NGÂN HÀNG CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN MÔN HỒI PHỤC TDTT

Dành cho đại học chính quy Trường đại học TDTT Bắc Ninh

 

Câu1: Khái niệm về hồi phục (khái niệm hồi phục,sự hồi phục,trạng thái,quá trình,giai đoạn hồi phục),bản chất, đặc điểm và phân loại quá trình hồi phục.

Câu 2.Trình bày các quy luật diễn biến các quá trình hồi phục chức năng cơ thể vận động viên trong tập luyện và thi đấu TDTT .

Câu 3. Trình bày các giai đoạn của quá trình hồi phục

Câu 4. Trình bầy các quy luật chung của quá trình hồi phục các chức năng ?cho vị dụ thực tế trong hoạt động môn TT chuyên sâu

Câu 5. Diễn biến quá trình hồi phục cơ thể VĐV khi thực hiện các lượng vận động thể lực có các tính chất khác nhau.Có các đặc điểm sau:

Câu 6.Khái niệm mệt mỏi ( theo quan điểm xh,tâm lý,y sinh và kết luận)Hiện nay, tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về mệt mỏi tuỳ theo các khía cạnh khác nhau (sinh lý, tâm lý, xã hội ).

Câu 7.Cơ chế của mệt mỏi trong lao động thể lực và hoạt động TDTT ở các vùng cường độ khác nhau.

Câu 8. Đặc điểm mệt mỏi trong các vùng cường độ khác nhau, trong quá trình thực hiện các bài tập thể lực? Phương pháp lựa chọn bài tập thúc đẩy quá trình hồi phục mệt mỏi đó ?

Câu 9. Các nguyên tắc chung sử dụng các phương pháp hồi phục trong thể thao.

Câu 10. Phân loại các phương pháp hồi phục ? Hãy vẽ sơ đồ đồ tổng quát các phương pháp hồi phục sức khỏe cho VĐV ?

Câu 11. Các phương pháp hồi phục sư phạm

Câu 12. Các phương pháp hồi phục tâm lý

Câu 13. Các phương pháp hồi phục y – sinh học

Câu 14. Các nguyên tắc chung của sử dụng các phương tiện hồi phục.

phục trong huấn luyện TT?

Câu 15.Các yếu tố quy định sự sử dụng các phương tiện và phương pháp hồi

Câu 16. Khái niệm xoa bóp hồi phục trong thể thao? Trình bày sơ đồ tác dụng chính của xoa bóp hồi phục.  

Câu 17.  Tác dụng xoa bóp hồi phục bằng máy

Câu 18.Tác dụng xoa bóp hồi phục  bằng nước.

Câu 19.Tác dụng xoa bóp hồi phục  khi tắm hơi .

Câu 20.Phương pháp sử dụng vòi sen, bồn tắm và suối nước khoáng

Câu 21. Phương pháp trình tự xoa bóp hồi phục

Câu 22. Nhiệm vụ chủ yếu của dược học TT?

Câu 23. Các yêu cầu cơ bản trong sử dụng dược chất hồi phục

Câu 24. Các nguyên tắc cơ bản trong sử dụng các dược chất hồi phục ?

Câu 25. Phân loại các chất hồi phục trong hoạt động TT ?

Câu 26. Tác dụng sinh lý của kỹ thuật duỗi cơ trong hồi phục ? cho vị dụ cụ thể kỹ thuật duỗi cơ ở môn TT chuyên sâu?

Câu 27. Tác dụng sinh lý của kỹ thuật rung cơ và lắc cơ trong hồi phục ? cho vị dụ cụ thể kỹ thuật rung lắc cơ ở môn TT chuyên sâu

Câu 28. Tác dụng sinh lý của giấc ngủ trong hồi phục? Muốn có giấc ngủ ngon cần làm gì?

Câu 29. Phân loại điều trị bằng điện

Câu 30.  Tác dụng sinh học của dòng điện cao tần, sóng ngắn

Câu 31. Tác động của nhiệt độ lên hệ thần kinh.

Câu 32. Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phục hồi dự trữ glycogen.

Câu 33. Phương pháp tăng khả năng dự trữ lượng glucogen

Câu 34. Đồ uống khi vận động

Câu 35.Sự tạo nhiệt trong quá trình hoạt động:

Câu 36.Tác hại của việc thiếu nước:

 Câu 37.Yêu cầu về bồi hoàn nước:

Câu 38. Phương pháp tự  điều hòa cảm xúc và giức ngủ bằng tác động lên cơ quan phân tích vận động

Câu 39. Phương pháp tự  điều hòa cảm xúc và giức ngủ bằng tác động  hô hấp

Câu 40. Phương pháp tự  điều hòa cảm xúc và giức ngủ bằng tác động lên cơ quan phân tích thính giác (âm thanh)?.

 

 

NGÂN HÀNG VÀ ĐÁP ÁN HỒI PHỤCTDTT

Câu1:Khái niệm về hồi phục ( khái niệm hồi phục,sự hồi phục,trạng thái,quá trình,giai đoạn hồi phục ),bản chất, đặc điểm và phân loại quá trình hồi phục.

Đáp án:

                    Khái niệm  Hồi phục: Là khôi phục lại chức năng sinh lý biến đổi trong vận động về trạng thái trước  vận động. Như vậy hồi phục là sau khi kết thúc lượng vận động bài tập,tất cả các chức năng của cơ thể dần dần được trở về trạng thái ban đầu.

Sự hồi phục: Tập hợp tất cả những biến đổi chức năng cơ thể trong giai đoạn hồi phục được gọi là sự hồi phục.

   -Trạng thái hồi phục: Trạng thái cơ thể khi các quá trình hồi phục đang diễn ra được gọi là “trạng thái hồi phục”

   -Giai đoạn hồi phục:Thời gian sau lượng vận động bài tập diễn ra sự hồi phục được gọi là giai đoạn hồi phục.

    - Quá trình hồi phục:  Các quá trình sinh lý đảm bảo hồi phục những cơ quan, hệ cơ quan sẽ xảy ra những biến đổi đưa cơ quan  trở về trạng thái chức năng trước lúc vận động được gọi là quá trình hồi phục

Bản chất của quá trình hồi phục. 

- Đào thải các sản phẩm trao đổi chất: Axítlắctic, urê, CO2... qua con đường bài tiết.

- Phục hồi các năng lượng đã mất đi và tổng hợp,các men thích ứng.

VD: Sau khi đường  cung cấp cho hoạt động, nó được tổng hợp lại và tăng lên ở dạng dự trữ để chuẩn bị cho các hoạt động tiếp theo.

- Đưa cơ thể trở về trạng thái ban đầu.

VD: Tần số nhịp tim tăng lên khi vận động, khi nghỉ ngơi lại trở về mức ban đầu là 75 lần/1' (bình thường) còn với vận động viên thậm chí thấp hơn 55-60 lần/1 phút. Đó là sự biểu hiện của sự thích nghi với vận động.

- Biến đổi trong quá trình hồi phục sẽ làm tăng khả năng chức phận, tăng đồng hoá các chất.

* Khả năng chức phận là các chức năng của bộ phận cơ thể.

+ Trạng thái chức năng: Bao gồm cả cấu trúc và chức năng.

Ví dụ: Tim vận động viên có sự phì đại mới có lưu lượng phút là 32  đến 34 lít/phút.

+ Trạng thái thể chất bao gồm cả cấu trúc, chức năng và tố chất vận động.

Ví dụ: Cơ phì đại thì chức năng co rút, thả lỏng nhanh và biểu thị tăng tố chất sức nhanh, sức mạnh.

Đặc điểmcủa quá trình hồi phục:

Quá trình hồi phục của các chức năng sinh lý xảy ra theo một số đặc điểm chung sau.

- Quá trình hồi phục của từng chức năng cũng như khả năng hoạt động thể lực nói chung xảy ra theo hình làn sóng và không đều, được biểu diễn theo một đường đồ thị dạng hình sin, tăng giảm theo tính chất có quy luật theo chu kỳ tắt dần.                                                            

- Nhịp độ hồi phục của các chức năng sinh lý xảy ra không đều: Ngay sau hoạt động, sự hồi phục chức năng xảy ra nhanh hơn, sau đó chậm hơn.

- Các chức năng sinh lý khác nhau, thậm chí chỉ số sinh lý khác nhau hồi phục với tốc độ khác nhau.

- Khả năng hoạt động thể lực và nhiều chức năng liên quan với khả năng hoạt động thể lực của cơ thể sau hoạt động với cường độ lớn không chỉ hồi phục đến mức trước vận động mà còn vượt quá mức đó, tạo ra sự hồi phục vượt mức.

Phân loại quá trình hồi phục : Có 4 giai đoạn.

- Hồi phục nhanh: Quá trình hồi phục diễn ra trong hoặc ngay sau khi ngừng vận động.( bản chất của nó là sự trả nợ dưỡng)VD hồi phục tần số nhịp tim, lưu lượng phút, lưu lượng tâm thu, tấn số hô hấp, thông khí phổi.

- Hồi phục chậm: Quá trình hồi phục năng lượng.

- Hồi phục vượt mức: Là hồi phục dự trữ năng lượng dẫn đến tích luỹ trên mức trao đổi chất , tăng cường các chức năng cơ bản và khả năng hoạt động của cơ thể, các chỉ tiêu sinh lý cao hơn mức ban đầu.

- Hồi phục muộn. Là hồi phục các chỉ số chức năng còn lại. Sự dần dần biến mất các biểu hiện của mệt mỏi, có thể kéo dài trong nhiều giờ đồng hồ thậm chí vài ngày sau tập luyện mới đạt được trạng thái hồi phục hoàn toàn, phụ thuộc vào cường độ, tính chất và thời gian thực hiện bài tập.

 

Câu 2.Trình bày các quy luật diễn biến các quá trình hồi phục chức năng cơ thể vận động viên trong tập luyện và thi đấu TDTT .

Đáp án:

Sau đây là một số quy luật diễn biến của quá trình hồi phục theo quan điểm  của I.P. Pavlov:

                 + Trong cơ quan đang hoạt động, bên cạnh các quá trình phá vỡ và suy kiệt luôn diễn ra quá trình hồi phục. Quá trình hồi phục không chỉ diễn ra sau khi kết thúc vận động, mà nó đã diễn ra ngay trong quá trình tập luyện và thi đấu.

                  + Mối quan hệ giữa mức độ suy kiệt và tốc độ hồi phục phụ thuộc vào cường độ của vận động. Trong thời gian thực hiện các bài tập có cường độ vận động lớn trong thời gian dài, quá trình hồi phục không ở trạng thái bù lại hoàn toàn sự tiêu hao năng lượng, bởi vậy quá trình bù đắp hoàn toàn các biến đổi sẽ diễn ra muộn hơn – trong thời gian nghỉ sau vận động.

                   + Sự hồi phục các nguồn dữ trữ bị tiêu hao diễn ra không chỉ về mức xuất phát ban đầu, mà có thể vượt lên cao hơn (hồi phục vượt mức)

 

Câu 3. Trình bày các giai đoạn của quá trình hồi phục

Đáp án:

Các quá trình hồi phục diễn ra theo dạng sóng,IA.M.Kos (1986)đã chia quá trình hồi phục ra làm 4 pha :

-Pha hồi phục nhanh

-Pha hồi phục chậm

-Pha hồi phục vượt mức

-Pha hồi phục muộn

Theo tác giả hai pha đầu tương đương với giai đoạn hồi phục khả năng hoạt động bị giảm do kết quả của tập luyện mệt mỏi kéo dài, pha thứ ba gia tăng khả năng hoạt động hay còn gọi là pha hồi phục vượt mức, pha thứ tư khả năng tập luyện trở về trạng thái xuất phát.

 

Mức khả năng hoạt động thể lực xuất phát

Tập luyện      

Hồi phục      

Mức xuất phát

Hồi phục      

Vượt mức

Khả năng hoạt

động thể lực

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                            

                     Sơ đồ : Biến đổi chức năng trong và sau hoạt động thể lực

                    Phụ thuộc vào xu hướng chung của các biến đổi sinh lý, sinh hóa và thời gian cần thiết để hồi phục những biến đổi đã về mức bình thường, nhiều tác giả chia quá trình hồi phục thành hai hình thức:

-Hồi phục nhanh và hồi phục muộn

      + Hồi phục nhanh lan truyền trong khoảng 30 -90 phút đầu của giai đoạn hồi phục, có thể kéo dài lâu hơn sau những lượng vận động thể lực có cường độ lớn và kéo dài.Ở giai đoạn này diễn ra quá trình phân giải các sản phẩm của quá trình chuyển hóa yếm khí tích tụ trong thời gian thực hiện lượng vận động và trả  nợ O2

     + Hồi phục muộn kéo dài trong nhiều giờ đồng hồ thậm chí vài ngày sau tập luyện phụ thuộc vào cường độ và thời gian thực hiện bài tập.

Trong giai đoạn này tăng cường các quá trình chuyển hoá thích nghi, trao đổi, tái tạo và khắc phục các rối loạn cân bằng ion và hormone trong cơ thể, phục hồi nguồn dự trữ năng lượng của cơ thể, tăng cường tổng hợp các men và prôtit cấu trúc bị tiêu hủy trong quá trình hoạt động cơ.

                    Trong giai đoạn hồi phục muộn có pha hồi phục vượt mức với đặc điểm là khả năng hoạt động thể lực và nhiều chức năng liên quan đến khả năng hoạt động thể lực (chủ yếu hồi phục vượt mức dự trữ năng lượng) của cơ thể sau hoạt động với cường độ lớn không chỉ hồi phục về mức trước vận động, mà còn vượt quá mức đó.Trong thực tế huấn luyện, nếu buổi tập sau được bắt đầu từ trong pha hồi phục vượt mức sẽ là cơ sở để nâng cao năng lực vận động, thành tích TT.

 

Câu 4. Trình bầy các quy luật chung của quá trình hồi phục các chức năng ?cho vị dụ thực tế trong hoạt động môn TT chuyên sâu

Đáp án:

Quá trình hồi phục các chức năng cơ thể VĐV diễn ra theo ba quy luật phổ biến sau :

     + Tốc độ và thời gian hồi phục của đa số các chỉ tiêu chức năng cơ thể phụ thuộc trực tiếp vào cường độ, thời gian vận động và trình độ tập luyện. Công suất vận động càng lớn, thì các biến đổi chức năng cơ thể càng diễn ra sâu sắc và tốc độ hồi phục càng nhanh. Điều đó có nghĩa là sau các bài tập có công suất cực lớn và diễn ra trong thời gian ngắn, thì hồi phục diễn ra sẽ rất nhanh, chỉ sau ít phút .Ví dụ, sau khi VĐV thực hiện bài tập kéo dài trong thời gian 30 giây  với cường độ đạt 90-95 % mức tối đa. Một số chỉ số chức năng tuần hoàn, hô hấp hồi phục sau 30 – 60 giây, một số chỉ số chức năng khác có thể kéo dài 3 – 4 phút hoặc lâu hơn.Còn các bài tập công suất vận động trung bình, thời gian vận động kéo dài, thì thời gian hồi phục có thể kéo dài đến một vài ngày hoặc lâu hơn.

       + Tốc độ hồi phục các chức năng, thậm chí các chỉ số trong một chức năng có thể không giống nhau.Ví dụ, sau hoạt động công suất tối đa, chỉ số huyết áp hồi phục sau 6 – 8 phút, nhưng thời gian hồi phục tần số mạch cần khoảng 20 phút …Vì vậy, sự kết thúc giai đoạn hồi phục không được đánh giá một cách riêng rẽ từng chỉ tiêu hay một nhóm các chỉ tiêu mà chủ yếu căn cứ vào sự hồi phục chỉ tiêu có tốc độ chậm nhất.

     + Năng lực vận động và một số chức năng quan trọng của cơ thể quy định năng lực vận động đó trong quá trình hồi phục sau các hoạt đông cơ căng thẳng không những đạt mức độ trước vận động mà còn có thể đạt ở mức cao hơn. Đây còn gọi là quy luật hồi phục vượt mức.

 

Câu 5. Diễn biến quá trình hồi phục cơ thể VĐV khi thực hiện các lượng vận động thể lực có các tính chất khác nhau.Có các đặc điểm sau:

Đáp án:

            Các quá trình hồi phục diễn ra không đều, tính chất pha của sự hồi phục năng lực vận động, thời gian hồi phục các chức năng thực vật không giống nhau (không đồng thời )sự hồi phục chức năng vận động và chức năng thực vật không giống nhau.

                    Cường độ của các quá trình hồi phục và thời gian cần thiết để phục hồi  nguồn năng lượng dự trữ trong cơ thể phụ thuộc vào tốc độ tiêu hao chúng trong thời gian thực hiện bài tập.Tăng nhanh cường độ các quá trình hồi phục dẫn đến : Ở một thời điểm nhất định trong khi nghỉ  ngơi sau tập luyện, nguồn dự trữ năng lượng trong cơ thể có thể được hồi phục vượt quá mức trước vận động (do hoạt động các men đồng hóa được tăng cường), hiện tượng này gọi là sự hồi phục vượt mức.Thời gian của pha này phụ thuộc vào thời gian thực hiện bài tập và mức độ biến đổi của các quá trình sinh hóa trong cơ thể.

                    Tốc độ của các quá trình hồi phục, sự nhạy cảm đối với một số phương tiện hồi phục có thể liên quan tới các đặc điểm cá thể của vận động viên.Các vận động viên có cùng trình độ tập luyện có thể có khả năng hồi phục khác nhau.Ví dụ một số vận động viên có trình độ tập luyện cao (đạt phong độ TT tốt )nhưng hồi phục diễn ra chậm.

                    Các quá trình hồi phục sau khi thực hiện một hoạt động thể lực bất kỳ  nào sẽ diễn ra khác nhau ở các thời điểm khác nhau, và công suất tốc độ của các quá trình hồi phục diễn ra mạnh mẽ nhất ở giai đoạn ngay sau khi kết thúc bài tập.Theo nghiên cứu của V.M.Zasiorski (1990),Khi thực hiện các lượng vận động có tính chất khác nhau, công suất và thời gian của quá trình hồi phục diễn ra theo ba mức ,ở một phần ba thời gian đầu của giai đoạn hồi phục, hồi phục khoảng 60 %.Ở một phần ba giữa hồi phục khoảng 30 % và ở một phần ba cuối hồi phục khoảng 10 % các phản ứng hồi phục.

                     Khi nghiên cứu diễn biến sự hồi phục tần số mạch  sau các bài tập ưa khí V.M. Alecseev (1983) chia ra hai giai đoạn hồi phục khác nhau. Giai đoạn thứ nhất - giảm nhanh tần số mạch. Trong giai đoạn này sự giảm tần số mạch diễn ra với tốc độ nhanh và không đổi trong vòng 60 giây đầu ngay sau khi kết thúc bài tập ưa khí tối đa và trong vòng 45 – 50 giây đầu sau khi kết thúc bài tập ưa khí dưới tối đa. Tác giả thấy tốc độ giảm tần số mạch trong giai đoạn này không phụ thuộc vào tần số mạch trong vận động, hay nói cách khác là cường độ vận động.

                    Giai đoạn hai – giai đoạn tần số mạch giảm chậm và phụ thuộc vào tần số mạch trong vận động ,nghĩa là phụ thuộc vào cường độ vận động.

                    Trong các nghiên cứu, V.P. Philin (1951) thấy tần số mạch, giá trị huyết áp và các chỉ số điện tâm đồ sau khi thực hiện các bài tập tốc độ và sức mạnh - tốc độ hồi phục hoàn toàn sau 24 giờ .Thời gian hồi phục lượng oxy hấp thụ tối đa (VO 2 max) phụ thuộc vào trình độ rèn luyện và khối lượng công việc đã thực hiện (B.C. Gippenreiter, 1966) .Trong các nghiên cứu của M.IA. Gorkin và cộng sự (1973) trên các chỉ số hô hấp ngoài, sức mạnh cơ bắp, các chỉ số thành phần  của máu…đã đưa ra kết luận rằng: Có thể đạt được kết quả tập luyện  cao khi thực hiện lặp lại bài tập ở giai đoạn năng lực vận động tăng.

                    Các tác giả cho rằng các chỉ số của sự hồi phục hoàn toàn của cơ thể về mức độ xuất phát cần được coi là sự hồi phục muộn của một số chức năng. Điều này là cơ sở cho quan điểm về việc sử dụng các bài tập tập luyện có lượng vận động lớn không quá 1 lần trong 5 – 7 ngày .

                    Hồi phục các chức năng sau vận động đặc trưng bởi hàng loạt các đặc điểm không chỉ xác định quá trình hồi phục, mà còn xác định mối liên quan lẫn nhau có tính chất kế thừa với các bài tập trước và bài tập sau đó, mức độ sẵn sàng lặp lại bài tập của người tập.

  Đặc trưng diễn biến quá trình hồi phục sau lượng vận động tập luyện và thi đấu là sự hồi phục diễn ra không đều các chỉ số khác nhau so với trước vận động, tính chất pha của sự hồi phục năng lực vận động, thời gian hồi phục các chức năng thực vật không giống nhau (B.C. Gippenreiter, 1966; N.D. Graievskaia, 1987; V.V. Rozenblat, 1975; V.M. Volcov, 1977; V.I. Dubrovski, 1991, 1999…) Sau khi thực hiện bài tập trong thời gian 30 giây với công suất đạt 90% so với mức tối đa thì quá trình hồi phục khả năng làm việc của cơ thể diễn ra từ 90-120 giây, các chỉ số chức năng thực vật hồi phục sau 30-60 giây, còn các chức năng khác thì xê dịch đến 3-4 phút hoặc có thể nhiều hơn.

                    Trong quá trình thực hiện các bài tập vận động, diễn ra sự tiêu hao năng lượng dự trữ oxy của cơ thể , phosphagen (ATP và CP), glycogen của cơ và gan, glucose của máu và tiêu hao mỡ. Sau khi kết thúc bài tập, các nguồn năng lượng này sẽ diễn ra dần dần hồi phục. Các tác giả  IA.M. Kos,1986; V.C. Misenco, 1990 thấy rằng: Chỉ sau ít giây ngay sau khi kết thúc bài tập, dự trữ oxy của cơ thể (khoảng 11ml oxy/kg cơ) đã được hồi phục hoàn toàn, đây là lượng oxy gắn với mioglobin.

                    -Trả nợ oxy do quá trình phi lacstat(alactacid debt): Sau 3-5 phút trả nợ oxy do quá trình phi  lactate-lượng oxy để hồi phục lượng photphagen bị tiêu hao.

                    Sự hồi phục lượng phosphagen diễn ra rất nhanh. Trong vòng 30 giây ngay sau khi kết thúc vận động, phục hồi khoảng 70% lượng phosphagen tiêu hao, còn sự hồi phục hoàn toàn kết thúc sau vài phút và chủ yếu là do năng lượng chuyển hoá ưa khí, tức là nhờ lượng oxy cơ thể hấp thụ ngay ở pha đầu của sự hồi phục  nợ oxy.

                    -Phân hủy acid latic, trả nợ oxy do quá trình glucôphân yếm khí (lactacid debt):  Sau 30- 90 phút trả nợ oxy do quá trình glucôphân, đây là lượng oxy để phân hủy acid lactic, bao gồm: Đốt cháy trong cơ bắp, cơ tim, tổng hợp thành glycogen, trong gan và thận.

                    Lượng glucose và glycogen bị tiêu hao trong hoạt động cơ càng lớn, thì lượng oxy cần cho sự hồi phục chúng càng nhiều .  Trong giai đoạn hồi phục, diễn ra sự phân giải axit lactic tích luỹ trong cơ, gan và dịch mô. Một phần axit lactic được sử dụng để tái tổng hợp glycogen ở gan và cơ (20 %); một phần bị đốt cháy tạo ra H20 và C02 ở cơ bắp (sợi cơ chậm ) và cơ tim (70 %);một phần chuyển hóa thành protid (10%);còn lại 1-2 % được thải ra ngoài qua đường mồ hôi và nước tiểu. Nếu sau những bài tập có lượng vận động lớn mà vận động viên thực hiện các bài tập có lượng vận động nhỏ (phục hồi tích cực) thì sự phân giải lượng axit lactic sẽ diễn ra nhanh hơn. Theo V.M. Diachco việc thực hiện những bài tập ưa khí có cường độ trung bình có ảnh hưởng tốt đối với diễn biến của các quá trình hồi phục.

 

Câu 6.Khái niệm mệt mỏi ( theo quan điểm xh,tâm lý,y sinh và kết luận)Hiện nay, tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về mệt mỏi tuỳ theo các khía cạnh khác nhau (sinh lý, tâm lý, xã hội ).

Đáp án:

-Về mặt sinh lý: Theo F.C. Barlet (1953) thì mệt mỏi là trạng thái giảm khả năng tập luyện do hoạt đông kéo dài trong điều kiện bình thường, còn V.V. Rozenblat (1975)  cho rằng mệt là hiện tượng giảm khả năng tập luyện có ý nghĩa tạm thời và có khả năng phục hồi…

-Về mặt tâm lý: Mệt mỏi là một cảm giác khó chịu làm giảm khả năng tập luyện, gây ra do tập luyện quá mức kéo dài; mệt mỏi là một cảm giác không rõ rệt đi từ khoái lạc do một hoạt động được thoả mãn đầy đủ, báo hiệu nhu cầu nghỉ ngơi hồi phục, cho đến cảm giác khó chịu hay suy sụp rã rời (Morin, 1946).

            -Về mặt xã hội: Mệt mỏi là sự giảm năng suất, chất lượng công việc hay  thành phẩm và có thể đưa đến tai nạn tập luyện.                

                Tóm lại, theo quan niệm của chúng tôi, mệt mỏi là một hiện tượng tâm sinh lý bình thường, một trạng thái tất yếu của cơ thể xuất hiện do thực hiện lượng vận động tập luyện thể lực hoặc tập luyện TDTT, là sự giảm sút tạm thời khả năng tập luyện, là sự suy giảm các chức năng thần kinh trung ương, thần kinh cơ, chức năng vận động, chức năng hệ thần kinh thực vật, hệ thống thể dịch và phá vỡ sự phối hợp giữa chúng mà biểu hiện là cảm giác mệt. Về mặt sinh học, mệt mỏi là một phản ứng bảo vệ báo hiệu cho cơ thể phải ngừng tập luyện để tránh sự suy kiệt các dự trữ chức năng, bảo vệ cơ thể khỏi sự căng thẳng trường diễn, và bên cạnh đó mệt mỏi như một hiện tượng lưu giấu vết của hoạt động cơ đã thực hiện, thúc đẩy sự phát triển khả năng thích nghi chức năng và thích nghi sinh hoá, kích thích sự gia tăng năng lực vận động và trình độ rèn luyện của cơ thể. Không có cảm giác mệt mỏi con người không thể có được cảm giác thoả mãn với công việc mình đã làm. Trong huấn luyện TDTT, ta thường nói, nếu không có mệt mỏi thì không có huấn luyện, không có hồi phục thì không có nâng cao.

 

Câu 7.Cơ chế của mệt mỏi trong lao động thể lực và hoạt động TDTT ở các vùng cường độ khác nhau.

Đáp án:

                  Hiện nay, mệt mỏi trong hoạt động thể lực được giải thích bằng bốn cơ chế cơ bản sau :

      1. Mệt mỏi do các trung tâm thần kinh:

            Khi thực hiện bất kỳ một bài tập thể lực nào đều diễn ra những biến đổi chức năng của các trung tâm thần kinh điều khiển hoạt động cơ và hệ thống đảm bảo dinh dưỡng, đặc biệt là các trung khu thần kinh ở vỏ não. Khi thực hiện các bài tập có cường độ lớn hoặc kéo dài, các xung động thần kinh (với tần số cao hoặc kéo dài đơn điệu)từ các cảm thụ bản thể (recepters) ở các cơ, khớp, dây chằng,  gân, ổ khớp liên tục được truyền về các trung tâm thần kinh ở vỏ não và các trung tâm vận động của tủy sống có thể làm cho các trung tâm này bị hưng phấn tột độ-gây ức chế trên giới hạn, và gây mệt mỏi theo Pavlov Sự mệt mỏi này là biểu hiện của ức chế bảo vệ trên giới hạn khi hưng phấn quá mức.

Trong trạng thái mệt mỏi, giảm hàm lượng ATP trong các noron thần kinh và rối loạn sự tổng hợp acetylcholine trong các tổ chức xináp thần kinh-cơ, kết quả là rối loạn sự hình thành và dẫn truyền các xung động thần kinh đến các cơ hoạt động.

             Mệt mỏi có thể liên quan đến những thay đổi trong hoạt động của hệ thống thần kinh thực vật và hệ thống nội tiết.Những thay đổi trong hoạt động của các hệ thống này có thể dẫn đến rối loạn điều khiển chức năng thực vật và rối loạn đảm bảo năng lượng cho hoạt động cơ.

Trong quá trình thực hiện các bài tập thể lực, sự xuất hiện mệt mỏi sẽ ức chế hoạt động của các tuyến nội tiết  (trong đó có hệ thống giao cảm-tủy thượng thận ),giảm tiết các hormone,và giảm hoạt tính của hàng loạt các men miozin ATP-aza kiểm soát sự chuyển năng lượng hóa học thành cơ học.Giảm tốc độ tái tổng hợp ATP, tự động giảm công xuất vận cơ.

              2.Mệt mỏi do nhiễm độc các sản phẩm chuyển hóa: Trong các hoạt động cơ với cường độ vận động lớn, năng lượng được cung cấp chủ yếu bằng phân giải glucose yếm khí và tạo ra nhiều acid lactic trong các tế bào cơ.Khi acid này khuyếch tán vào máu và gây nên sự thay đổi cân bằng kiềm toan giá trị pH máu có thể giảm xuống dưới 6,9 sau khi thực hiện bài tập công suất tối đa trong 40 – 60 giây. Giảm pH máu dẫn đến giảm hoạt tính của hàng loạt men (phospho fructokinaza,ATP,-aza…)mà hoạt tính của chúng thường cao trong môi trường kiềm nhẹ(pH=7,35-7,40),dẫn đến ức chế quá trình glucophân, tức là hạn chế cung cấp năng lượng cho sự co cơ, kết quả là giảm khả năng hoạt động của cơ.Thực hiện những bài tập có cường độ lớn trong thời gian dài, một lượng mỡ đáng kể từ các kho dự trữ được huy động vào quá trình cung cấp năng lượng đi tới gan và bị phân hủy (khi hàm lượn cortisol huyết tương tăng quá cao), ở gan sẽ phá vỡ lipid được huy động thành các keto acid đơn giản của nó,dẫn đến tình trạng nguy hiểm (nhiễm toan-ketosis).Tăng cường phân hủy protid dẫn đến tăng hàm lượng urê máu.

             Như vậy sự tích lũy các sản phẩm chuyển hóa làm cơ thể bị nhiễm độc và gây nên trạng thái mệt mỏi.

             3 .Mệt mỏi do cạn kiệt dự trữ năng lượng: Các nguồn dự trữ năng lượng có thể bị tiêu hao đáng kể trong các loại hình hoạt động khác nhau và có thể là nguyên nhân gây nên tình trạng mệt mỏi. Đối với các hoạt động yếm khí công suất tối đa,mệt mỏi là do cạn  kiệt ATP và CP dự trữ trong cơ, còn các hoạt động yếm khí dưới tối đa một trong những nguyên nhân gây mệt mỏi là do cạn kiệt nguồn glycogen cơ…

             Sau khi thực hiện bài tập công suất tối đa trong thời gian ngắn đến lúc từ chối ,hàm lượng CP trong cơ có thể kiệt quệ hoàn toàn, hàm lượng ATP trong cơ giảm xuống mức 60-70 % so với yên tĩnh .Giảm tốc độ tái tổng hợp ATP có thể là nguyên nhân xuất hiện mệt mỏi .

            4.Mệt mỏi do thiếu ô xy trong vận động.Trong một số loại hình vận động với công suất lớn, hệ vận chuyển ô xy không có khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu ô xy của cơ thể.Thiếu ô xy làm cho các tế bào thần kinh và  và tế bào cơ bị  “ngạt thở “,gây ra hiện tượng ức chế thần kinh trung ương  và tích tụ acid lactic hoặc cạn kiệt dự trữ năng lượng do không được tái tổng hợp kịp thời và gây lờn mệt mỏi.

Như vậy không thể hạn chế nguyên nhân gây mệt mỏi ở một cơ quan hay hệ thống riêng lẻ, và mệt mỏi xuất hiện trong một loại hình vận động nào đã cũng không phải chỉ theo một cơ chế nhất định mà có thể là sự kết hợp của nhiều cơ chế khác nhau.

 

Câu 8. Đặc điểm mệt mỏi trong các vùng cường độ khác nhau, trong quá trình thực hiện các bài tập thể lực? Phương pháp lựa chọn bài tập thúc đẩy quá trình hồi phục mệt mỏi đó ?

Đáp án:

                 1.Mệt mỏi vùng cường độ vận động cực đại.

          Đại diên cho vùng này là các môn TT: Chạy 100m,200m,đua xe đạp tốc độ 200-500m,bơi 50m v.v.. Tốc độ tối đa.Thời gian thực hiện không quá 20--30s

 Mệt mỏi trước tiên liên quan đến hệ thống vận chuyển oxy hạn chế khả năng tập luyện,nguyên nhân là suy kiệt nguồn cung cấp năng lượng phi lac tát(ATP-CP )dự trữ trong cơ và sự mệt mỏi trung ưng thần kinh. Việc đảm bảo năng lượng được thực hiện do hệ thống phosphagen (ATP,CP), không có sự tham gia đáng kể của quá trình gluco –phân. Thông khí phổi (TKP) không vượt quá 20 - 30%  thông khí phổi tối đa. Tần số tim (F) trước xuất phát đạt 140 - 150 nhịp/phút, sau khi kết thúc bài tập đạt 160 - 180 nhịp/phút,có thể đạt 180- 200 lần/phút. Hàm lượng axit lactic máu đạt 5 - 8 mmol/lít. Trước khi thực hiện bài tập hàm lượng glucoza máu hơi tăng. Trước và trong khi thực hiện bài tập hàm lượng catecholamin và corticoid tăng, hàm lượng insulin giảm.Nhu cầu oxy khoảng 7 – 14 lít, nợ oxy đạt 6 – 12 lít chiếm 90 – 95%.

 Trong các hoạt động có chu kỳ công suất tối đa, mệt mỏi xuất hiện rất nhanh. Để thực hiện hoạt động thể lực loại này , các trung tâm thần kinh hưng phấn rất mạnh, hoạt động của các cơ đối kháng phải phối hợp tối ưu,từ các cơ quan cảm thụ ở cơ có một luồng xung động hướng tâm rất nhanh và mạnh đi đến các trung tâm thần kinh. Vì vậy trung tâm thần kinh sớm bị ức chế, khả năng hoạt động của thần kinh dễ bị ức chế, khả năng  của  hoạt động của thần kinh giảm sút nhanh chóng.

Năng lượng cung cấp cho hoạt động công suất tối đa là các photphagen (ATP-CP). Photphagen, đặc biệt là CP bị phân huỷ rất nhanh. Vì vậy cạn dự trữ năng lượng cũng làm mệt mỏi xuất hiện sớm.

Như vậy là trong hoạt động có chu kỳ công suất tối đa, mệt mỏi xuất hiệnchủ yếu do ức chế trung tâm thần kinh và cạn dự trữ ATP-CP

Phương pháp lựa chọn bài tập thúc đẩy quá trình hồi phục mệt mỏi đó ?

  -Bài tập ưa khí

- Bài tập duỗi cơ

-Bài tập hoạt động thụ động và thả lỏng

 

              2.Mệt mỏi vùng cường độ vận động dưới cực đại.

           Đại diên cho vùng này là các môn TT: Chạy 400m, 800m,1500m; bơi 100m,đua xe đạp tốc độ 1km .v.v.

Thời gian thực hiện kéo dài 30- 40 giây đến không quá 4 - 5 phút.

 Mệt mỏi trước tiên liên quan đến hệ thống vận chuyển oxy hạn chế khả năng tập luyện,nguyên nhân mệt mỏi là do các sản phẩm trao đổi chất tích lũy nhiều trong cơ thể, đặc biệt là acid lactic máu tăng quá cao;độ pH trong các tế bào cơ,trong máu giảm mạnh (toan hóa),nợ 02 cao,cạn kiệt dự trữ glycogen trong cơ, giảm cường độ của quá trình glucophân yếm khí. Tần số tim (F) trước xuất phát đạt 150 – 160 nhịp/phút, sau khi kết thúc bài tập đạt 180 –200 nhịp/phút,huyết áp tối đa tăng180- 200 mmHg. Trong quá trình thực hiện bài tập thông khí phổi tăng, đến giai đoạn cuối đạt 50 – 60% lượng TKP tối đa (60 – 80 lít/phút). Tăng tốc độ sử dụng oxy và đạt 70 – 80% lượng oxy tiêu thụ tối đa (Vo2 max). Hàm lượng axit lactic trong máu sau khi kết thúc bài tập đạt đến 15 mmol/lít. Hàm lượng này càng lớn thì trình độ VĐV càng cao. Hàm lượng glucoza tăng đến 100 – 120 mg%. Trong các hoạt động có chu kỳ công suất dưới tối đa, những biến đổi ở thần kinh trung ương có vai trò quan trọng trong việc phát sinh mệt mỏi. Luồng xung động hướng tâm từ cơ quan vận động dần dần gây ức chế hoạt động của các

trung tâm thần kinh.

Hoạt động có chu kỳ công suất dưới tối đa thực hiện ở điều kiện yếm khí, thiếu ô xy, nợ dưỡng lớn . Các sản phẩm trao đổi chất như axit lac tic tích tụ lại gây ảnh hưởng xấu đến trung tâm thần kinh. Như vậy mệt mỏi trong hoạt động có chu kỳ công suất dưới tối đa xuất hiện chủ yếu do ức chế trung tâm thần kinh và rối loạn môi trường bên trong cơ thể .

Phương pháp lựa chọn bài tập thúc đẩy quá trình hồi phục mệt mỏi đó ?

  -Bài tập ưa khí

- Bài tập duỗi cơ

-Bài tập hoạt động thụ động và thả lỏng

3.Mệt mỏi vùng cường độ vận động lớn.

         Đại diên cho vùng này là các môn TT:  Chạy 3000m,10000m, bơi 800m-1500m.v.v.có tần số động tác thấp hơn so với công suất tối đa và dưới tối đa.Thời gian thực hiện bài tập có thể kéo dài đến 30 phút.

Yếu tố quyết định sự phát triển mệt mỏi là do không cung cấp đủ oxy cho cơ hoạt động, cạn kiệt dự trữ năng lượng (glycogen cơ và gan ),giảm hiệu suất làm việc của tim do hoạt động với cường độ lớn và trong thời gian dài .Hệ thần kinh trung ương bị mệt mỏi do hoạt động có tính chất đơn điệu và kéo dài gây nên.Nhiệt độ cơ thể tăng cao (39-41 độ )do rối loạn quá trình điều nhiệt của cơ thể, ngoài ra giảm đường huyết cũng là nguyên nhân dẫn đến mệt mỏi. Nhu cầu oxy có thể đạt 20 – 40 lit/phút, mức độ tiêu hao năng lượng vượt 4 – 5 lần lượng tối đa của sản xuất năng lượng ái khí. Tần số tim, lượng máu tâm thu, TKP có thể đạt gần giá trị tối đa của VĐV. Hàm lượng axit lactic trong cơ và máu đat đến 20 – 25 mmol/lít. pH máu giảm đến dưới 7,0. Tăng hàm lượng glucoza đến 150 mg%. Hàm lượng catecholamine và corticoid trong huyết tương đạt cao. Dưới ảnh hưởng của các sản phẩm chuyển hoá yếm khí, thay đổi tính thấm của màng tế bào đối với protein, làm tăng hàm lượng protein trong máu, có thể xuất hiện protein trong nước tiểu (có thể đạt 1,5%). Hoạt động có chu kỳ công suất lớn được thực hiện trong trạng thái ổn định giả , cơ thể trong trạng thái thiếu ô xy , mặc dù nợ dưỡng ít hơn , nhưng vẫn tương đối lớn và kéo dài, tim và bộ máy hô hấp phải làm việc rất căng thẳng . Trong máu cũng tích tụ nhiều sản phẩm trao đổi chất , hàm lượng một số hoc montuyến thượng thận giảm xuống. Ngoài ra tác động  đơn  điệu và kéo dài của các xung động hướng tâm đi từ bộ máy vận động trong cự ly daì cũng gây ức chế các trung tâm thần kinh .

Như vậy là trong hoạt động công suất lớn, mệt mỏi phát sinh chủ yếu do khả năng làm việc của hệ vận chuyển ô xy, mà chủ yếu là tim bị hạn chế . hàm lượng axit lac tic tíchcao trong cơ và máu cũng đãng vai trò nhất định trong việc xuất hiên mệt mỏi.

Phương pháp lựa chọn bài tập thúc đẩy quá trình hồi phục mệt mỏi đó ?

  -Bài tập ưa khí

- Bài tập duỗi cơ

-Bài tập hoạt động thụ động và thả lỏng

 4.Mệt mỏi vùng cường độ vận động trung bình.

         Đại diên cho  cho các bài tập loại này là: Chạy cự ly dài ,chạy việt dó,đi bộ TT  50 km,đua xe đạp đường dài v.v..Cường độ hoạt động không cao nhưng thời gian hoạt động kéo dài nên tác động mạnh đến cơ thể có thể dẫn đến tình trạng kiệt sức. Yếu tố quyết định sự mệt mỏi là do cạn kiệt nguồn năng lượng dự trữ, đặc biệt là glycogen trong gan và trong cơ vân. Ngoài ra hàm lượng axit lactic trong máu luôn cao hơn mức bình thường, suy giảm chức năng thần kinh trung ương cũng là nguyên nhân quan trọng phát sinh mệt mỏi trong các hoạt động thể lực ở vùng cường độ này do hoạt động đơn điệu và kéo daì gây nên.Tăng nhiệt độ trong cơ thể dẫn đến phân bố lại lượng máu trong cơ thể,tăng lượng máu lưu thông để tăng thải nhiệt ,nhưng giảm lượng máu đến các cơ quan hoạt động làm cac tế bào cơ bị thiếu ô xy và chóng mệt mỏi. Hoạt động có chu kỳ công suất trung bình kéo dài hàng giờ làm ảnh hưởng lượng đường dự trữ trong gan và máu . Nhu cầu ô xy hoá đường và mì đòi hỏi một lượng ô xy lớn làm cho tim và hô hấp phải làm việc ở mức cao kéo dài . Mồ hôi ra nhiều trong hoạt động kéo dàicó thể gây rối loạn trao đổi nước và muối khoáng cũng có thể làm cơ thể mệt mỏi , các xung động hướng tâm đơ điệu theo chu kỳ cũng có tác dụng gây ức chế các trung tâm thần kinh.

Nguyên nhân mệt mỏi cơ bản nhất trong hoạt đông công suất trung bình vẫn là cạn dự trữ năng lượng đường trong cơ thể .

Phương pháp lựa chọn bài tập thúc đẩy quá trình hồi phục mệt mỏi đó ?

  -Bài tập ưa khí

- Bài tập duỗi cơ

-Bài tập hoạt động thụ động và thả lỏng

 

Câu 9. Các nguyên tắc chung sử dụng các phương pháp hồi phục trong thể thao.

          bởi vậy khi sử dụng các phương pháp hồi phục trong thể thao cần phải căn cứ vào các nguyên tắc chung sau:

    1.Cần phải tiến hành kiểm tra các quá trình thích nghi và mức độ chịu đựng của VĐV đối với bài tập. Trên cơ sở các số liệu thu được để lập kế hoạch sử dụng các phương pháp hồi phục phù hợp.

    2.Năng lực chịu đựng với các bài tập thể lực nặng phụ thuộc vào các quá trình hồi phục. Khi các quá trình hồi phục diễn ra nhanh ta có thể tăng cường độ các bài tập cũng như tần số các bài tập. Nếu quá trình hồi phục diễn ra không hoàn toàn, thì sự lặp lại các bài tập sẽ dẫn đến phát triển trạng thái mệt mỏi quá sức hay phá vỡ các quá trình thích nghi.

    3. Một trong các nhiệm vụ quan trọng của thể thao hiện đại là xác định kịp thời trạng thái chức năng của VĐV, đưa ra các phương pháp hồi phục và tiến hành  sự điều chỉnh quá trình huấn luyện .

     4.Tăng nhanh sự hồi phục bằng các tác động có định hướng lên các quá trình hồi phục là một trong những đòn bẩy của sự điều khiển các quá trình huấn luyện. Tăng nhanh quá trình hồi phục có thể đạt được bằng cách tự nhiên (hồi phục diễn ra nhanh một cách tự nhiên là một trong các tiêu chuẩn đánh giá của trình độ tập luyện) cũng như bằng các tác động có định hướng lên diễn biến của các quá trình hồi phục với mục đích kích thích chúng.

       5. Đặc điểm của thể thao hiện đại là VĐV thường xuyên phải tập luyện và thi đấu trong thời gian dài với cường độ và khối lượng vận động ở ngưỡng các khả năng chức năng của mình, đôi khi có thể vượt ngưỡng. Để cân bằng giữa mong muốn tập luyện đạt thành tích thể thao cao, với việc tập luyện gây căng thẳng các hệ thống của cơ thể dẫn đến xuất hiện các biến đổi bệnh lý ảnh hưởng đến sức khỏe VDV, thì việc sử dụng các phương pháp hồi phục khác nhau có ý nghĩa quan trọng hàng đầu .

      6. Hiện nay, sự hồi phục đã được coi là một bộ phận hữu cơ của quá trình huấn luyện. Do đó việc ứng dụng thực tế các phương pháp hồi phục khác nhau trong hệ thống đào tạo VĐV là cơ sở để tiếp tục nâng cao hiệu quả tập luyện và nhằm đạt được mức độ chuẩn bị thể lực tốt.

 

Câu 10. Phân loại các phương pháp hồi phục ? Hãy vẽ sơ đồ đồ tổng quát các phương pháp hồi phục sức khỏe cho VĐV ?

Đáp án:

                    Cách phân loại được sử dụng rộng rãi nhất trong thể thao là chia các phương pháp hồi phục thành ba nhóm: Nhóm các phương pháp sư phạm; nhóm các phương pháp tâm lý; nhóm các phương pháp y – sinh học. Sự kết hợp sử dụng các phương pháp này dựa trên định hướng của quá trình tập luyện, nhiệm vụ và giai đoạn huấn luyện, tuổi tác, trạng thái và mức độ chuẩn bị thể lực tạo nên hệ thống hồi phục .Thể hiện qua sơ đồ 1.1 sau

Phương pháp sư phạm

Phương pháp y sinh

Phương pháp tâm lý

Chế độ dinh dưỡng

Các phương pháp vật lý

Thuốc và dược liệu

Quang liệu pháp

Laser

Điện liệu pháp

Siêu âm

Thuỷ liệu pháp

Xoa bóp

Các phương pháp hồi phục cho VĐV

 

                     Sơ đồ 1.1.Các phương pháp hồi phục cho VĐV

      Trong hệ thống các phương pháp hồi phục sư phạm , phương pháp hồi phục tâm lý – sư phạm và vệ sinh phải được coi là những phương pháp cơ bản và bắt buộc phải thực hiện đối với tất cả các đối tượng tập luyện trong tất cả các giai đoạn tập luyện. Chúng có thể được thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên, huấn luyện viên hoặc do vận động viên tự tiến hành và là một phần hữu cơ của buổi tập. Ngược lại các phương pháp hồi phục tâm lý và các phương pháp hồi phục  y  học chỉ được sử dụng trong các tình huống tập luyện, đặc biệt dưới sự chỉ định và theo dõi của bác sỹ và cán bộ y học TDTT , bởi vì các phương pháp này mặc dù đều đã được kiểm chứng về mặt sinh lý và về nguyên lý hoàn toàn khác với chất kích thích ( dopinh), nhưng khi sử dụng vẫn cần phải thận trọng vì nếu tiến hành không đúng thì không những không có tác dụng mà còn có thể gây nên những phản ứng phụ gây bất lợi cho sức khoẻ và khả năng hoạt động thể lực cho VDV.  

 

Câu 11 Các phương pháp hồi phục sư phạm

Đáp án:

                    Các phương pháp hồi phục sư phạm là một nội dung bắt buộc trong chương trình tập luyện của tất cả các đối tượng nhằm tăng cường cơ thể bằng cách sử dụng các bài tập và chế độ tập luyện nghỉ nghơi hợp lý.Các phương pháp này thường rất đa dạng và phong phú, bao gồm từ sự phối hợp hợp lý giữa lượng vận động và nghỉ nghơi trong chu kỳ luyện tập,cũng như áp dụng các buổi tập hồi phục, các bài tập thả lỏng chuyên biệt, đảm bảo tính tăng dần tính chu kỳ của lượng vận động, đa dạng hoá phương pháp và khối lượng, cường độ tập luyện, phối hợp hợp lý giữa các bài tập chuyên môn và không chuyên môn…Thông qua xây dựng chế độ tập luyện và sinh hoạt phù hợp để thúc đẩy quá trình hồi phục. Nhóm phương pháp này được coi là cơ bản vì các phương pháp hồi phục khác (tâm lý hay y – sinh học) chỉ phát huy hiệu quả tối đa khi tập luyện và nghỉ ngơi có tính khoa học và hợp lý. Để đạt được hiệu quả tập luyện tối đa hợp lý với khả năng của cơ thể  khi sử dụng phương pháp sư phạm cần:

                    - Xây dựng bài tập hợp lý nghĩa là lượng vận động  thực hiện phải tương ứng với trạng thái sức khoẻ, mức độ chuẩn bị thể lực (khả năng chức năng) và tuổi của người tập.

                    -Kết hợp hợp lý huấn luyện chung và huấn luyện chuyên môn.                           

 

                    -Sử dụng luân phiên, xen kẽ các bài tập có cường độ và khối lượng khác nhau.

                    -Xây dựng kế hoach tập luyện và thi đấu hợp lý trong chu kỳ nhỏ, chu kỳ trung bình và chu kỳ lớn.

                    -Tập luyện ở vùng núi cao nhằm rèn khả năng thích nghi với thiếu oxy của cơ thể VĐV.

                    - Xây dựng chế độ sinh hoạt cá nhân hợp lý.

                    -Xây dựng bài tập cụ thể hợp lý và sinh động tạo trạng thái tâm lý ham muốn tập luyện.

                    -Cá nhân hoá các bài tập khởi động và các bài tập hồi phục.

                    -Tận dụng hiệu quả của hiệu ứng nghỉ ngơi tích cực và thư giãn.

                    Tuy nhiên mục đích và ý nghĩa của các phương pháp sư phạm hồi phục sức khoẻ cho vận động viên lại chính là các bài tập, các bài tập có tính chất thay đổi đặc điểm và hình thức tập luyện tạo ra sự hưng phấn và thư giãn để tạo điều kiện hồi phục tự nhiên tối ưu cho vận động viên.

 

Câu 12. Các phương pháp hồi phục tâm lý

Đáp án:

  Phương pháp hồi phục tâm lý nhằm mục đích điều hoà nhanh chóng các trạng thái tâm lý sau các bài tập, tập luyện thi đấu và thi đấu căng thẳng, tạo điều kiện cho sự hồi phục các chức năng sinh lý và năng lực vận động, tạo ra trạng thái tâm lý tốt,  nâng cao khả năng huy động các nguồn dự trữ của cơ thể đảm bảo cho hoạt động cơ.

                    Theo A.V. Chogovadze và L.A. Butchenco (1984) các phương pháp hồi phục tâm lý được chia thành hai nhóm:

                    1) Nhóm các phương pháp tâm lý – sư phạm bao gồm: Không khí quan hệ tập thể giữa các vận động viên  và giữa vận động viên với huấn luyện viên, cán bộ quản lý; phân trách nhiệm, vị trí vận động viên trong đội dựa trên trình độ mỗi vận động viên và phải chú ý đến loại hình thần kinh, nguyện vọng của mỗi vận động viên; điều kiện sinh hoạt, tập luyện và thi đấu, tiện nghi, tạo điều kiện thuận lợi cho vận động viên; các hình thức nghỉ ngơi thú vị, thỏai mái.     

                    2) Nhóm các phương pháp tâm lý - vệ sinh bao gồm: Cải thiện chế độ sinh hoạt hợp lý, tăng thời gian ngủ nghỉ, ảnh hưởng của ánh sáng, âm nhạc, một số phương pháp thư giãn cơ, sử dụng một số thuốc để cân bằng các quá trình thần kinh .

                    Để điều khiển trạng thái tâm lý và giảm bớt trạng thái căng thẳng thần kinh tâm lý vận động viên, các nhà khoa học đã đề nghị dùng các phương pháp sau: Thôi miên, đảm bảo ngủ- nghỉ ngơi hợp lý, tập luyện điều hòa thần kinh tâm lý, các liệu pháp tâm lý sử dụng một số loại thuốc giãn cơ,  các bài tập thở, điều kiện sinh hoạt thuận lợi thoải mái,  một số hình thức giải trí.

 Để điều khiển trạng thái tâm lý và giảm bớt sự căng thẳng thần kinh tâm lý ở các vận động viên  các nhà khoa học đã đề nghị dùng các phương pháp sau: thôi miên, đảm bảo ngủ - nghỉ ngơi hợp lý, tập luyện điều hoà thần kinh tâm lý, liệu pháp tâm lý chữa bệnh, sử dụng một số loại thuốc giãn cơ, các bài tập thở, điều kiện sinh hoạt thuận lợi thoải mái, một số hình thức giải trí.

Câu 13. Các phương pháp hồi phục y – sinh học

                    Các phương pháp hồi phục y – sinh học có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo hồi phục hoàn toàn khả năng hoạt động thể lực của vận động viên. Đây là các phương pháp được sử dụng để phục hồi dự trữ năng lương của cơ thể đã bị tiêu hao trong hoạt động, cân bằng thần kinh cũng như trạng thái chức năng của các hệ cơ quan khác như tuần hoàn, hô hấp, trao đổi chất, tăng cường hoạt tính men, khả năng miễn dịch và sức đề kháng của cơ thể trước những tác động bất lợi từ môi trường bên trong và bên ngoài.

                    Phương pháp hồi phục y – sinh học được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực thể thao là:

  - Dinh dưỡng hợp lý, bao gồm sử dụng các vitamin, các dược chất, các chất tạo thích nghi – adaptogen, các chất ảnh hưởng lên các quá trình năng lượng,

  - Các yếu tố vật lý (điện trị liệu, thuỷ trị liệu, ánh sáng trị liệu, điều trị oxy áp suất cao…)

 - Chế độ sinh hoạt trong ngày hợp lý, các yếu tố khí hậu môi trường tự nhiên .

                    Cơ chế ảnh hưởng của các phương tiện này là sự kết hợp giữa các ảnh hưởng không đặc hiệu ( tác động lên khả năng thích nghi của cơ thể, tăng cường khả năng miễn dịch, tính chịu đựng của cơ thể với các yếu tố bất lợi )và các ảnh hưởng đặc hiệu nhằm mục đích hồi phục các nguồn năng lượng và dự trữ tái tạo nguồn năng lượng của cơ thể bị tiêu hao trong quá trình hoạt động cơ, hồi phục sự cân bằng vitamin, các nguyên tố vi lượng, sự điều hòa nhiệt, tăng hoạt tính men, đào thải nhanh các sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa, hồi phục sự cân bằng các quá trình thần kinh. Kết quả là làm cho quá trình hồi phục diễn ra một cách dễ dàng, nâng cao khả năng thích nghi của cơ thể đối với các lượng vận động thể lực tiếp theo và nâng cao khả năng thể lực của cơ thể.

Câu 14. Các nguyên tắc chung của sử dụng các phương tiện hồi phục.

Đáp án:

Sự sử dụng các phương tiện hồi phục phải được dựa trên các nguyên tắc chung sau:

                Sử dụng tổng hợp các phương tiện: Là phối  hợp sử dụng các phương tiện hồi phục của cả ba nhóm và các phương pháp khác nhau trong cùng một nhóm với mục đích đồng thời tác động lên các chức năng quan trọng của cơ thể - chức năng vận động, các quá trình thần kinh, trao đổi chất và năng lượng, trạng thái miễn dịch…Tuy nhiên khi sử dụng hình thức này phải đặc biệt chú ý đến các chức năng cơ bản tương ứng với đặc điểm của môn chuyên sâu ( đối với môn thể thao sức bền thì hệ vận chuyển oxy và trao đổi chất là cơ bản còn đối với các môn sức mạnh tốc độ là hệ thần kinh- cơ).Bên cạnh đó, do đặc tính quá trình hồi phục không đồng thời của các cơ quan, cho nên khi áp dụng các phương tiện hồi phục cũng cần phải chú ý đến các bộ phận chức năng chậm hồi phục nhất và để làm được điều này cần phải tiến hành nghiên cứu đặc điểm hồi phục tự nhiên của mỗi vận động viên sau từng lượng vận động cụ thể(tính đến đặc điểm cá thể của cơ thể VĐV).

            Phối hợp hợp lý các phương tiện hồi phục: Đây cũng là một nguyên tắc quan trọng được đề ra dựa trên đặc tính phù hợp giữa các phương tiện và là điều kiện để có thể sử dụng tổng hợp các phương tiện hồi phục khác nhau. Nhìn chung trong mỗi buổi tập hồi phục, để nâng cao hiệu quả cần phải sử dụng phối hợp nhiều phương tiện khác nhau nhưng không được vượt quá 2 – 3 phương pháp để tránh gây quá tải tới khả năng thích ứng của cơ thể. Cần nắm được mối quan hệ giữa các phương tiện để tăng cường tác dụng của nhau (tắm hơi ,tác động áp suất cục bộ và xoa bóp dùng nước), hoặc ngược lại tác dụng hạn chế tác dụng của nhau (tắm lạnh và các phương tiện điện liệu pháp).Vì vậy cần phải đặc biệt lưu ý khi tiến hành phối hợp các phương tiện hồi phục. Đối với các phương tiện hồi phục chung như tắm hơi, ngâm, tắm điện, xoa bóp, oxy cao áp, chế độ dinh dưỡng, dược liệu pháp…thường chỉ được sử dụng sau hoạt động với khối lượng và cường độ lớn gây mệt mỏi toàn thân để tăng khả năng thích nghi và đề kháng chung của cơ thể. Ngược lại các phương tiện gây hồi phục cục bộ lại thường được sử dụng cho những nhóm cơ nhất định sau lượng vận động lớn.Trong trường hợp khi tiến hành hai buổi tập một ngày các phương tiện hồi phục cục bộ sẽ được áp dụng sau buổi tập thứ nhất và các phương tiện hồi phục chung sẽ áp dụng sau buổi tập thứ hai.Tuy nhiên tuỳ thuộc vào mục đích, tính chất và cường độ vận động mà thời điểm áp dụng các phương tiện hồi phục cũng phải được xác định một cách hợp lý, ví dụ để hồi phục tức thời, hồi phục nhanh giữa các lần xuất phát hoặc giữa các bài tập lặp lại thì có thể áp dụng các phương tiện hồi phục ngay sau khi ngừng vận động, nhưng nếu cần có sự hồi phục vượt mức thì lại phải thực hiện các phương tiện hồi phục sau khi ngừng hoạt động ít nhất 4- 8 giờ. Bên cạnh đó do sự phối hợp tác động giữa các loại dược phẩm là rất phức tạp và đa dạng vì vậy nếu sử dụng thuốc trong quá trình hồi phục thì cần phải đặc biệt lưu ý đến dược tính cũng như tác động của chúng đối với cơ thể để hạn chế sự đối kháng của chúng.

Đối xử cá biệt trong áp dụng các phương tiện hồi phục:

                    Đây cũng là một trong những nguyên tắc hồi phục dựa trên đặc điểm riêng về tốc độ cũng như các biểu hiện của quá trình hồi phục của vận động viên.Trên thực tế tuy có cùng trình độ và tập luyện với cùng một nội dung như nhau, nhưng do có sự khác biệt về nội tiết - thể dịch hoạt tính men, đặc điểm trao đổi chất cho nên ở mỗi vận động viên đặc điểm của quá trình hồi phục cũng khác nhau. Bên cạnh đó một số vận động viên có trình độ rất cao nhưng sự hồi phục lại diễn ra tương đối chậm và ngược lại một số cá thể có trình độ thể lực yếu nhưng khả năng hồi phục lại nhanh...

Từ các đặc điểm trên có thể thấy rằng để có thể lựa chọn và sử dụng một cách hợp lý các phương  tiện hồi phục thì trước hết cần phải xác định khả năng hồi phục tự nhiên của mỗi một vận động viên. Ở mỗi cá nhân độ cảm thụ của cơ thể với từng phương tiện hồi phục sẽ có sự khác biệt rất lớn, đặc biệt là độ cảm thụ với dược liệu, các yếu tố vật lý và một số chất dinh dưỡng .Ví dụ do tác dụng của dược phẩm phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như lứa tuổi, giới tính, đặc điểm dinh dưỡng, thể trạng...cho nên khi chuyển hoá chậm các hoá phẩm này có thể sẽ gây phản ứng xấu ở một số người.Tương tự như vậy, tuỳ thuộc vào tính chất, liều lượng và độ cảm thụ của từng cá nhân mà phản ứng đối với các yếu tố vật lý cũng có thể rất khác nhau, nhưng nhìn chung các phương tiện vật lý trị liệu đều có thể gây ức chế, hoặc kích thích đối với cơ thể, vì nó không phụ thuộc vào tính chất mệt mỏi của vận động viên. Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này khi sử dung các phương tiện hồi phục cần chú ý:

        + Các phương tiện hồi phục được sử dụng phải đảm bảo an toàn ( không gây hại và độc) nhất là các dược chất. Cần xác định chính xác để đảm bảo rằng các phương tiện này hoàn tòan vô hại và ít phản ứng phụ đối với cơ thể. Ngoài ra , trong hoạt động thể dục thể thaoviệc sử dụng các loại dược phẩm này chỉ có được phép thực hiện khi chúng không có trong danh mụcdoping bị cấm của Uỷ ban Quốc tế Olympíc và các liên đoàn thể thao quốc tế.

        + Các phương tiện hồi phục phải phù hợp với nhiệm vụ và giai đoạn huấn luyện, tính chất và độ lớn của lượng vận động cũng như đặc điểm của từng môn thể thao chuyên sâu, bởi vì không phải lúc nào cũng cần thúc đẩy một cách nhân tạo quá trình hồi phục của vận động viên.

        + Các phương tiện hồi phục có tác dụng mạnh (chủ yếu là dược chất)      không được sử dụng một cách có hệ thống và  kéo dài  để tránh các hậu quả bất lợi, cơ thể sẽ thích nghi dần với tác động của phương tiện hồi phục và vì vậy hiệu quả của chúng sẽ giảm đi. Tác dụng phụ của các biện pháp hồi phục sẽ được tích luỹ và ngày càng tăng lên. Do sự thích nghi của cơ thể ngày càng tăng lên, vì vậy hiệu quả tác động của lượng vận động sẽ giảm dần. Do đó cần phải liên tục tăng cường độ kích thích ( tăng lượng vận động).

          A.N. Buroviux (1982) cho rằng sử dụng một cách đúng đắn các phương tiện  hồi phục chỉ khi giải quyết được các vấn đề sau:

         - Xác định được hệ thống chức năng của cơ thể đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện lượng vận động và là yếu tố cản trở năng lực vận động, và cần phải chú ý đến tính không đồng bộ diễn biến  của các quá trình hồi phục chịu sự kích thích của các phương tiện hồi phục được sử dụng, như vậy mới đạt được sự hồi phục năng lực vận động của VĐV trong thời gian ngắn nhất.

          - Nghiên cứu và lựa chọn công nghệ sử dụng hợp lý các phương pháp khác nhau trong tổ hợp các phương tiện hồi phục.

         - Lựa chọn các phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng các tổ hợp phương pháp hồi phục và hoàn thiện các hình thức tổ chức thực hiện các phương pháp hồi phục trong hệ thống huấn luyện thể thao.

Câu 15.Các yếu tố quy định sự sử dụng các phương tiện và phương pháp hồi phục trong huấn luyện TT?

Đáp án:

            1) Các phương tiện và phương pháp hồi phục khác nhau có các ảnh hưởng khác nhau lên sự hồi phục năng lực vận động của cơ thể VĐV.

            2) Hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện hồi phục phụ thuộc vào tính chất, khối lượng, cường độ của lượng vận động thể lực được thực hiện.

           3) Sử dụng các phương tiện hồi phục giống nhau trong thời gian dài dẫn đến cơ thể thích nghi với chúng, và như vậy hiệu quả của các phương pháp hồi phục bị giảm. Cần phải luân phiên các phương tiện và tăng giảm liều lượng thường xuyên (sự thích nghi của cơ thể với các phương tiện hồi phục như xoa bóp áp lực, kích thích điện, galvanic… diễn ra nhanh hơn so với các phương tiện như tắm hơi nóng, tắm hơi khô, tắm nước nóng…)                                                                                                                                

          4) Kết hợp sử dụng đúng đắn các phương tiện hồi phục cụ thể trong tổ hợp có thể làm gia tăng đáng kể hiệu quả hồi phục

          5) Sự nâng cao trạng thái chức năng của cơ thể phụ thuộc vào chiến thuât và trình tự sử dụng các phương tiện hồi phục.

          6) Sử dụng các phương pháp hồi phục một cách có kế hoạch trong hệ thống huấn luyện thể thao thúc đẩy sự gia tăng của các tố chất thể thao chuyên môn của VĐV.

          7) Sử dụng có định hướng các phương pháp hồi phục giảm đáng kể nguy cơ chấn thương thể thao.

          8) Sự linh hoạt sử dụng các phương pháp, phương tiện hồi phục trước, trong và sau thực hiện các bài tập tập luyện và thi đấu cho phép nâng cao hiệu quả tập luyện của bài tập, phát triển phong độ thể thao của các VĐV.

           9) Thực hiện một cách định hướng các phương pháp hồi phục (có tính tổ hợp) sẽ thúc đẩy khả năng hoàn thành các bài tập có lượng vận động lớn.

           10) Sử dụng có kế hoạch, có định hướng các phương tiện và phương pháp hồi phục khác nhau, sẽ có tác dụng củng cố hiệu quả huấn luyện được lưu lại của các lượng vận động thể lực và các phương tiện hồi phục.

 

Câu 16. Khái niệm xoa bóp hồi phục trong thể thao? Trình bày sơ đồ tác dụng chính của xoa bóp hồi phục.

Đáp án:

 

Khái niệm:Xoa bóp hồi phục là phương pháp vận dụng các phương tiện và kỹ thuật cơ bản của xoa bóp lên cơ thể VĐV nhằm thúc đẩy quá trình hồi phục.

Xoa bóp hồi phục là phương pháp đơn giản, dễ thực hiện và tiện dụng và là phương pháp cực kỳ hữu hiệu chống lại mệt mỏi, nâng cao năg lực vận động, phát triển các tố chất thể lực

 Trình bày sơ đồ tác dụng chính của xoa bóp hồi phục.

Sơ đồ 1.2. Tác dụng chính của xoa bóp hồi phục

Xoa bóp hồi phục

Hồi phục và nâng cao năng lực vận động

Giảm sự căng cơ.Bình thường hoá giấc ngủ

Loại trừ trạng thái căng thẳng thần kinh - tâm lý

 

                - Loại bỏ ức chế tâm lý và giảm trương lực cơ .

                - Hồi phục và nâng cao khả năng hoạt động chung và chuyên môn của từng bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể .

                - Loại trừ cảm giác căng thẳng thần kinh ,tâm lý ,đau đớn.

         - Bình thường hóa giức ngủ

          - Tăng cường tuần hoàn hô hấp ,quá trình trao đổi chất,tạo điều kiện hồi phục tối ưu trạng thái chức năng cơ thể sau vận động.    

 

Câu 17.  Tác dụng xoa bóp hồi phục bằng máy

Đáp án:     

                Dưới ảnh hưởng của  máy xoa bóp  các quá trình oxy hoá sẽ được diễn ra nhanh hơn , tốc độ hồi phục sẽ cao hơn , khả năng co bóp và tính hưng phấn của cơ tốt hơn , nhiệt độ của da tăng lên ( do tuần hoàn mao mạch tốt hơn ), tuần hoàn máu và bạch huyết ở vùng được xoa bóp tốt hơn, đồng thời các chất dinh dưỡng được đưa đến và sự đào thải các chất cặn bã qua tế bào tại vùng được xoa bóp cũng sẽ tăng lên . Xoa bóp rung đối với các nhóm cơ bị co cứng thì việc áp dụng hình thức này thường mang lại hiệu quả tối ưu.

                Hiệu quả của máy phụ thuộc vào biên độ , tần số rung và vị trí đặt cực của máy ( theo chiều dọc hay chiều ngang của các sợi cơ ), thời gian thực hiện và biên độ sóng ( tần số rung nhỏ làm giảm trương lực cơ ) , cho nên có thể sử dụng loại máy này để điều chỉnh trạng thái của hệ thần kinh cơ.

                Việc xoa bóp hồi phục bằng máy rung thường được tiến hành từ 1-2 giờ sau tập luyện , hoặc 2 giờ trước khi ngủ với tần số dao động khoảng từ 5 - 15 hec , sau chấn thương hoặc sau khi mắc phải một số căn bệnh nào đã làm giảm trương lực cơ thì có thể sử dụng máy này với tần số rung khoảng 30 hec. Máy xoa bóp rung thúc đẩy hồi phục năng lực vận động của VĐV, tăng mức độ thực hiện động tác, lực cơ, giãn mạch máu ngoại biờn, cải thiện tuần hoàn và tốc độ dùng máu , ảnh hưởng tích cực lên bộ máy thần kinh – cơ. Ngoài ra, nó còn thúc đẩy sự thả lỏng cơ sau tập luyện, nâng cao tính linh hoạt cơ năng của hệ thống thần kinh trung ương, nâng cao tính nhạy cảm da – cơ, nâng cao năng lực vận động,tăng lực cơ. Dưới ảnh hưởng của xoa bóp rung tần số thấp, hoạt hoá các quá trình oxy hoá, thúc đẩy hồi phục, tăng khả năng co bóp và tính hưng phấn của cơ, tăng nhiệt độ da (do tuần hoàn mao mạch được cải thiện). Để nâng cao năng lực vận động và loại trừ mệt mỏi nên sử dụng xoa bóp rung tần số thấp đến 15 Hz từ 2  - 5 phút .

                Chú ý chỉ định : Không được sử dùng máy xoa bóp rung khi có mụn nhọt, bệnh ngoài da hoặc sốt cao.   

 

Câu 18.Tác dụng xoa bóp hồi phục  bằng nước.

Đáp án:

                Hình thức này thường được thực hiện để thúc đẩy các quá trình chuyển hoá , nhằm tăng cường tuần hoàn máu và bạch huyết do nó không chỉ tác động tới cơ thể bằng nhiệt độ của nước ( 35-380 ) mà còn cả tác động cơ học (áp suất ) lên các cơ quan cảm thụ ở da và các tế bào ở sâu. Khi phối hợp với các phương pháp khác , xoa bóp bằng nước sẽ làm tiêu sưng , giảm đau và nâng cao sức khoẻ.

                Trong hoạt động thể dục thể thao hình thức này được chỉ định sử dụng như là một phương tiện hồi phục sau tập luyện căng thẳng , sau chấn thương hoặc sau khi mắc các bệnh về hệ vận động. Có thể tiến hành việc xoa bóp ngay trong bể tắm bình thường hoặc bể chuyên dụng với các động tác như xoa vuốt , xoa xát và nhào cơ theo trình tự tiến hành từ chi dưới lên đến chi trên rồi đến lưng , ngực , bụng . Sau khi thực hiện xong nên xoa pomát chống viên hoặc pomát tiêu độc lên vùng cơ thể bị đau.

Theo O.M. Mirzoev, 2000 xoa bóp nước có tác dụng làm giảm trương lực cơ (đặc biệt khi trương lực tăng), dùng nước có hiệu quả dón cơ cao. Dưới ảnh hưởng của xoa bóp nước cải thiện vi tuần hoàn và tăng cường dùng máu ngoại biờn, kết quả là các quá trình oxy hoá - hồi phục được hoạt hoá, tăng tốc độ đào thải axit lactic…Thời gian xoa bóp nước từ 5 – 10 phút tuỳ thuộc vào môn thể thao, tuổi tác và trạng thái chức năng của VĐV

 

Câu 19.Tác dụng xoa bóp hồi phục  khi tắm hơi .

Đáp án:

Khi tắm hơi, nhiệt độ sẽ có ảnh hưởng rất tốt tới sự hồi phục khả năng vận động của vận động viên . Nếu phối hợp việc tắm hơi và xoa bóp thì sẽ góp phần đẩy nhanh sự bài tiết các sản phẩm chưa bị oxy hoá ra khái cơ thể , loại trừ mệt mỏi và các rối loạn tuần hoàn ngoại biên.

                    Tuy nhiên khi vận động viên quá mệt mỏi thì không nên tắm hơi , bởi vì điều này có thể tạo thêm lượng vận động cho hệ tim mạch - hô hấp và điều hoà thân nhiệt , khi xoa bóp trong tắm hơi không nên sử dụng các động tác như chém, đấm và nhào cơ mạnh , tác động sâu. Khi bị chấn thương và có bệnh cấp tính , tuyệt đối không nên sử dụng hình thức xoa bóp này . Xoa bóp nước (trong bồn nước ấm, nhiệt độ 34 – 35 0C) có tác dụng hồi phục chung, là phương tiện để tôi luyện cơ thể. Ngoài ra tác dụng của xoa bóp bằng hơi hoạt động dựa trên nguyên lý là lần lượt thay đổi áp lực không khí (tăng, giảm) lên xuống tạo thành sóng không khí để xoa bóp cơ thể. Dưới ảnh hưởng của xoa bóp hơi, tuần hoàn ngoại biên và dinh dưỡng các mô được cải thiện, tăng tốc độ dòng máu, tăng trương lực cơ nếu nó bị giảm, tăng số lượng mao mạch hoạt động.

                  Trong thể thao, xoa bóp hơi được chỉ định như một phương tiện hồi phục, loại trừ mệt mỏi, tăng khả năng vận động. Được tiến hành sau khi

kết thúc tập luyện hay thi dấu 1 – 2 giờ hoặc 2 – 3 giờ trước khi ngủ, thời gian từ 15 – 25 phút

Ngoài ra:               Sau các buổi luyện tập kỹ thuật duỗi cơ,  mát-xa thể thao,phương pháp thủy trị liệu là các phương pháp hồi phục thường được áp dụng. Tuy nhiên, việc sử dụng các thiết bị thủy trị liệu chưa được đánh giá cao và ít được sử dụng . Phương pháp này bao gồm:Tắm bằng vòi sen, bồn tắm, phao bơi, tắm hơi và tắm suối nước khoáng là những hoạt động tạo ra môi trường lý tưởng để duỗi cơ và tự mát-xa.

 

Câu 20.Phương pháp sử dụng vòi sen, bồn tắm và suối nước khoáng

Đáp án:

 

                                +  Tắm suối nước khoáng hoặc bồn tắm nước nóng đan xen tắm bằng vòi sen hoặc bể bơi nước lạnh

                                +  Đan xen tắm nước nóng 390C - 400C với tắm nước lạnh 100C - 120C

                                                                ♦ 3 - 4 phút tắm nước nóng, sau đó

                                                                ♦ 30 - 60 giây tắm nước lạnh

                                                                ♦ Lặp đi lặp lại 3 lần

                                + Vòi sen

                                                                ♦ Có thể sử dụng bất cứ lúc nào

                                                                ♦ 30 giây, nước được điều chỉnh từ ấm đến nóng

                                                                ♦ 30 giây nước lạnh

                                                                ♦ Lặp đi lặp lại 3 lần

                                + Chú ý: Luôn luôn mang theo nước uống hoặc đồ uống thể thao

                Việc sử dụng đan xen nước nóng và nước lạnh làm tăng độ lưu thông máu trong các cơ làm việc, thúc đẩy quá trình phân giải axit lactic,tăng đàn tính của thành mạch. Bằng phương pháp này quá trình phục hồi lac-tat xảy ra ở qui mô tương đương với quả trình phục hồi axit lactíc nhờ những hoạt động ưa khí nhẹ.  

                Tắm đan xen nước nóng lạnh còn có tác dụng kích thích các dây thần kinh bởi vì trung tâm thần kinh (bộ óc) phải cảm nhận cùng lúc cả hai loại thông tin nóng lạnh. Cảm giác nóng lạnh được lặp đi lặp lại làm tăng mức độ tỉnh táo của vận động viên. Áp lực từ các luồng hơi và các tia nước của vòi sen còn có tác dụng tăng cường thả lỏng cơ nhờ những kích thích co cơ nhẹ.

Câu 21. Phương pháp trình tự xoa bóp hồi phục

Đáp án:

        Trình tự của xoa bóp hồi phục theo bảng sau .

Bảng TRÌNH TỰ CỦA XOA BÓP HỒI PHỤC.

(THEO O.M. MIRZOEV - 2000)

Đặc điểm

Thời gian

Những điều kiện đặc biệt

Buổi xoa bóp thứ nhất

Xoa bóp ngắn trong thời điểm nghỉ giữa các bài tập.

3 – 7 hoặc 10 – 15 phút phụ thuộc vào thời gian nghỉ giữa hai bài tập.

Nếu thời gian nghỉ giữa các bài tập 10- 12 giờ, thời gian của buổi xoa bóp có thể kéo dài 40- 60 phút và lâu hơn (trọng lượng cơ thể đến 40 kg- 40 phút, đến 75 kg- 50 phút, đến 100 kg- 60 phút). Xoa bóp sẽ đạt hiệu quả cao nếu  được tiến hành sau kết thúc bài tập 15- 20 phút sau khi thực hiện bài tập kéo dài 10- 15 phút.

   Buổi xoa bóp thứ hai

(buổi chính)

Xoa bóp chính, tiến hành sau 2-4 giờ sau khi kết thúc bài tập.

40-60 phút.

Các động tác xoa bóp không được gây cảm giác đau, xoa bóp kỹ ở vùng gần của các cơ. Phân bố thời gian: 15% xoa vuốt, nhào cơ 60%, các động tác còn lại 25%.

 

Theo tác giả trong giai đoạn huấn luyện chuẩn bị nên tiến hành xoa bóp hồi phục 3 – 4 buổi/ tuần sau buổi tập thứ 2 trong ngày; trong giai đoạn thi đấu- xoa bóp 2 buổi/ ngày, sau thi đấu thực hiện xoa bóp ngắn, buổi chiều 2 ngày hôm sau thì tiến hành xoa bóp chính.

Câu 22. Nhiệm vụ chủ yếu của dược học TT?

Đáp án:

-Điều trị bệnh và tình trạng căng thẳng quá mức ở VĐV

-Thúc đẩy các quá trình hồi phục.

-Phòng ngừa tình trạng căng thẳng quá mức trường diễn và chữa trị bệnh,nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể.

-Nâng cao năng lực hoạt động thể thao.

-Điều chỉnh sự thích nghi của cơ thể với các điều kiện môi trường thay đổi.

Câu 23. Các yêu cầu cơ bản trong sử dụng dược chất hồi phục

Đáp án:

-Ít độc tính và hoàn toàn không gây hại cho cơ thể, không có tính chất đôpinh.

-Không gây phản ứng phụ.

-Hình thức đóng gói tiện sử dụng.

Câu 24. Các nguyên tắc cơ bản trong sử dụng các dược chất hồi phục ?

Đáp án:

-Sử dụng phải theo chỉ định của bác sĩ (phù hợp với các chỉ định cụ thể và trạng thái cơ thể VĐV).

-Trước khi sử dụng phải kiểm tra sự dung nạp thuốc với từng cá nhân phụ thuốc vào tuổi,giới tính,đặc điểm thần kinh tâm lý ,trạng thái chức năng…

-Không được sử dụng lâu dài và liên tục các chất,để đề phòng sự xuất hiện các ảnh hưởng độc,các phản ứng dị ứng và sự phụ thuộc,sự nhờn(thích nghi) của cơ thể với một loại thuốc cụ thể.

-Khi sử dụng cùng một lúc hai loại thuốc trở lên phải tính đến khả năng tương tác của chúng

-Nếu các quá trình hồi phục tự nhiên diễn ra trong cơ thể mạnh mẽ,thì không cần thiết sử dụng các dược chất hồi phục.

-Không sử dụng các dược chất hồi phục trong giai đoạn phát triển của cơ thể (trừ các vi ta min)

-Sử dụng các dược chất phải tính đến đặc điểm kế hoạch huấn luyện(lượng vận động,định hướng và cường độ của bài tập,hình thức tập luyện).Các chất này thường được sử dụng vào giai đoạn tập luyện căng thẳng và giai đoạn thi đấu.

-Các dược chất hồi phục chỉ định sử dụng theo liều ,thường kéo dài khoảng 2-4 tuần.Không được lạm dụng thuốc,vì có thể giảm hiệu quả tập luyện

Câu 25.Phân loại các chất hồi phục trong hoạt động TT ?

Đáp án:

Các dược chất hồi phục được dùng trong TT có thể phân thành nhóm:

-Các vitamin,coenzyme,các loại đồ uống có chứa vitamin và các khoáng chất,các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao (các chất cao năng…)

-Các chất có tác dụng tái tạo,thúc đẩy sự tổng hợp các protein,bình thường hóa các quá trình trao đổi chất,cải thiện diễn biến các quá trình sinh hóatrongcơthể,vídụ:Orotat kali,metyluraxin,phosphagen,carnitine,piridoxanphotphat…

+Các chất ảnh hưởng đến các quá trình năng lượng,tăng nhanh khả năng hồi phục các nguồn năng lượng bị tiêu hao trong vận động,nâng cao khả năng chịu đựngcủa cơ thể với thiếu ôxy (acid glutamic,ATP,lecitin,vitamin B15,canciglycerophosphat…

+Các chất tạo thích nghi adaptogen,thích nghi,tăng trương lực cơ thể,nâng cao tính chịu đựng của cơ thể trong các điều kiện cực hạn (sâm, nhung…)

+Các chất chống lão hóa (an tioxydant).

+Các chất ảnh hưởng lên sự trao đổi năng lượng của tế bào thần kinh (lipocerebrin,phosphen,cerebrolysin…)

+Các chất kích thích chức năng các cơ quan tạo máu (viên sắt,acidfolic…).

Câu 26. Tác dụng sinh lý của kỹ thuật duỗi cơ trong hồi phục ? cho vị dụ cụ thể kỹ thuật duỗi cơ ở môn TT chuyên sâu?

Đáp án:

Duỗi cơ là hoạt động làm cho các mô tế bào dài thêm so với độ dài ở trạng thái nghỉ. Duỗi cơ là một chuỗi các hoạt động có thể làm thay đổi độ dài của cơ từ mức tối thiểu đến mức tối đa. Hoạt động duỗi cơ cực kỳ quan trọng đối với sự hoạt động của cơ xương; duỗi cơ thường được xem là cách thức tăng cường độ dẻo trong hoạt động của cơ bắp.

                Độ dẻo là tầm vận động xung quanh một khớp. Tầm vận động của các cá thể có sự khác biệt rất lớn.

  -Được xử dụng để hồi phục hệ cơ xương (tăng số mao mạch hoạt động, tăng tuần hoàn máu, hồi phục linh hoạt cơ năng ) tăng cường độ dẻo trong hoạt động của cơ bắp.

  -Duỗi cơ làm tăng thẩm thấu nuôi dưỡng sụn khớp, tăng dinh dưỡng cho sụn khớp do đó làm giảm quá trình thoái hóa của khớp.

 -Duỗi cơ trước tiên lực sẽ tác động lên cơ gây giãn cơ thụ động, giảm co cứng cơ và cắt đứt vòng xoáy bệnh lý đau sau tập luyện,mặt khác tạo lực chèn ép giúp cho dòng máu trở về tim dễ dàng tránh sự phù nề cứng cơ sau vận động. Tuy nhiên nếu khi duỗi nếu tăng giảm lực quá nhanh có thể gây kích thích làm tăng co cơ, do đó cần tăng giảm lực từ từ đặc biệt là sau buổi tập. Ví dụ:

Câu 27.Tác dụng sinh lý của kỹ thuật rung cơ và lắc cơ trong hồi phục ? cho vị dụ cụ thể kỹ thuật rung lắc cơ ở môn TT chuyên sâu

Đáp án:

 

- Động tác này thường được thực hiện sau hoặc xen kẽ với động tác duỗi cơ nhằm giúp cho máu và bạch huyết chuyển động được dễ dàng hơn, dịch giữa các tế bào được phân bố đồng đều hơn , gây ức chế thần kinh trung ương, giúp cơ được thả lỏng và giảm bớt sự căng thẳng .

. Phương pháp thực hiện .

                - Rung, lắc cơ thường được thực hiện rất đơn giản  cơ được lắc bằng ngón tay cái và ngón tay út làm trụ còn các ngón khác được nâng lên làm con lắc .)

                Tuy nhiên muốn thực hiện tốt được động tác này thì cổ tay phải thả lỏng, chuyển động nhanh và nhịp nhàng vơí tần số từ 12 - 15 lần trong 2 giây.   Kỹ thuật rũ cơ thường được thực hiện sau tất cả các động tác khác vào cuối buổi tập với phương pháp thực hiện tương tự như rung cơ .

                * Rũ cơ cẳng chân : VĐV nằm sấp , người hồi phục đứng song song với bộ phậnhồi phục, tay cầm lấy cổ chân , gập cẳng chân lại một góc 900 rồi nâng chân lên cách sàn  1 - 2cm và thực hiện động tác rũ cơ sang hai bên theo chiều ngang .

                Động tác này cũng có thể được thực hiện với người được hồi phục trong tư thế ngồi hai tay song song, người hồi phục đứng đối diện , hai tay cầm lấy các ngón chân rồi kéo căng và rung động với tần số nhanh nhất.

                * Rũ cơ cẳng tay : VĐV nằm ngửa , người hồi phục đứng cạnh vùng ngực , tay gần cầm lấy cổ tay củaVĐV, gập cẳng tay một góc 900 rồi nâng tay lên cạnh giường từ 3 -4 cm và thực hiện động tác rũ cơ nhẹ nhàng sang 2 bên theo chiều ngang . Nếu VĐVở tư thế ngồi thì người hồi phục phải đứng đối diên, hai tay cầm lấy các ngón tay củaVĐV, kéo căng và rung động theo tần số nhanh nhất.

Câu 28. Tác dụng sinh lý của giấc ngủ trong hồi phục? Muốn có giấc ngủ ngon cần làm gì?

Đáp án:

Tác dụng sinh lý: Trong khi ngủ, toàn bộ hoạt động của cơ thể đều thay đổi. Hệ thần kinh không phản ứng với các kích thích, tim đập chậm lại, huyết áp giảm, tần số hô hấp giảm, cơ bắp thả lỏng, trao đổi chất giảm, diễn biến của điện não đồ và các dấu hiệu tâm sinh lý khác trong cơ thể trong thời gian ngủ xuất hiện theo chu kỳ  hai pha không như nhau là pha ngủ chậm và pha ngủ nhanh với những đặc trưng khác nhau. Trong giức ngủ của người, phần lớn thời gian ( 70-80 %) là pha ngủ chậm xen kẽ nhiều lần với pha ngủ nhanh. Hai giai đoạn của giức ngủ đều cần thiết cho sự sống.Trong thời gian ngủ xảy ra quá trình xử lý thông tin mà cơ thể thu nhận được ban ngày .Vỏ não là bộ phận điều khiển các trung tâm dưới vỏ và các quá trình dinh dưỡng nhằm hồi phục trạng thái các cơ quan trong giức ngủ.. Vì vậy năng lượng tiêu hao giảm; trong cơ thể xẩy ra các quá trình hồi phục, nhất là trong các tế bào thần kinh; cơ thể được nghỉ ngơi hoàn toàn và khả năng làm việc được hồi phục lại.

Trong pha ngủ nhanh (ngủ nhanh) thường có các giấc chiêm bao, đó là do có sự xuất hiện các điện thế não bộ cao tần. Trong một đêm chúng xảy ra 3-4 lần ( kết quả của hoạt tính của vỏ não được nâng cao có chu kỳ trong thời gian thấy chiêm bao). Thời gian của pha ngủ nhanh lần thứ nhất kéo dài khoảng 9 phút, còn pha ngủ nhanh gần sáng khoảng 30 phút hoặc lâu hơn. Trong pha này ngoài các hoạt động được các biến động chức năng thực vật (tim đập nhanh, hô hấp biến đổi) và thậm chí huyết áp có tăng lên một ít. Trong pha  ngủ nhanh người ta ghi được phản ứng mạnh của vỏ não đối với kích thích yếu, trong khi đó các kích thích mạnh lại không gợi được sự “ trả lời”

Trong pha ngủ  chậm , nhịp tim và hô hấp chậm hơn so với trạng thái thức tỉnh. Đặc điểm về mạch đập ở vận động viên đang ngủ là nhịp đập của tim chậm dần theo thời gian trong đêm. Sự giảm một cách đáng kể nhịp tim lúc gần sáng ( đến 39 nhịp/ phút) chứng tỏ vai trò to lớn của giấc ngủ, nó như là trạng thái mà trong đó diễn ra một cách tích cực nhất các quá trình phục hồi.

 Muốn có giức ngủ ngon cần tuân theo các  thủ thuật sau:

Những việc nên làm

1. Tập các kỹ thuật thư giãn, thả lỏng trước khi đi ngủ (nghe nhạc du duơng, tậpthở, hình dung, tưởng tuợng ...)

2. Chỉ đi ngủ khi buồn ngủ.

3. Nếu không ngủ được sau khi tắt đèn 30 phút, hãy ra khái giường và làm một vài hoạt động thư giãn, thả lỏng (mục 1).

4. Đang đêm tỉnh giấc và không ngủ lại được, hãy ra khỏi giường và thực hiện các hoạt động ở mục 1. 

5. Dậy đúng giờ hàng ngày 

Những thứ cần tránh (vào buổi tối)

1. Cà phê

2. Thuốc lá

3. Rượu

4. Thức ăn chứa nhiều protein

Giảm suy nghĩ, lo lắng khi đã lên giường ngủ.

Tập dứt bỏ, quên hết mọi thứ.

Câu 29. Phân loại điều trị bằng điện

Đáp án:

Điện trị liệu được chia ba loại:

          - Điện trị liệu thấp tần có tần số từ 0 đến 5.000 Hz: bao gồm dòng crờmic, dòng điện xung.

         - Điện trị liệu trung tần có tần số từ 5.000 đến 300.000 Hz bao gồm dòng NEMEC và dòng điện xung biến.

         - Điện trị liệu cao tần, có tần số trên 300.000 Hz bao gồm sóng ngắn, súng decimet, súng centimet.

Câu 30. Tác dụng sinh học của dòng điện cao tần, sóng ngắn

Đáp án: 

Tác dụng sinh học của dòng điện cao tần, sóng ngắn là chuyển năng lượng điện thành nhiệt năng trong tổ chức cơ thể, và gây ra các ảnh hưởng sau: tăng cường nhu cầu oxy, tăng dinh dưỡng; tăng hoạt tính mao mạch; hạ huyết áp; giảm đau, an thần hệ thần kinh trung ương; tăng tốc độ dẫn truyền thần kinh ngoại vi; tăng giãn cơ nghỉ; cải thiện hiệu năng của cơ, vì sự nghỉ ngơi của cơ đối kháng, tăng lưu thông máu trong cơ, nâng cao khả năng tái tạo của các mô và tế bào; tăng khả năng thực bào, tăng miễn dịch; tăng hoạt tính nội tiết, cân bằng điều tiết.

       

Câu 31. Tác động của nhiệt độ lên hệ thần kinh. 

Đáp án:

                Khi nhiệt độ tác động lên da, các thụ cảm thể nhận cảm nhiệt độ ở da bị kích thích phát ra các xung động dẫn truyền  hướng tâm theo đường dẫn truyền cảm giác lên não gây ra cảm giác nhiệt. Từ não, các xung động thần kinh ly tâm gây ra các phản xạ tại chỗ nhiệt độ tác động. Các phản xạ tương tự còng xảy ra ở các vùng được chi phối bởi cùng một đốt đoạn thần kinh với vùng bị nhiệt tác động . Nếu các phản xạ tại chỗ và phản xạ theo vùng chi phối của cùng đốt đoạn thần kinh không đủ để điều hòa nhiệt thì xảy ra phản ứng toàn thân. Tác động của nhiệt độ lên tổ chức cơ thể sống có thể tóm tắt như sau:

 

TÁC ĐỘNG

NHIỆT NÓNG

NHIỆT LẠNH

Tuần hoàn

- Giãn mạch

- Tăng dòng máu

- Tăng phù nề

- Co mạch

- Giảm dòng máu

- Giảm phù nề

Chuyển hóa

- Tăng chuyển hóa

- Giảm chuyển hóa

Mô liên kết

- Giảm độ nhớt

- Tăng khả năng đàn hồi

- Giảm co cứng

- Tăng độ nhớt

- Giảm khả năng đàn hồi

- Tăng co cứng

Đau

- Giảm đau

- Lúc đẩu đau tăng, sau giảm đau

Thần kinh - cơ

- Giảm co cứng cơ

- Tăng co cứng cơ

 

Câu 32. Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phục hồi dự trữ glycogen.

Đáp án:

Yếu tố trước tiên ảnh hưởng đến tốc độ tái tổng hợp glycogen là loại và số lượng hydrat cacbon ăn vào cùng như thời gian ăn vào. Glycogen cơ tiêu hao toàn bộ sau 2 - 3 giờ hoạt động liên tôc ở cường độ khá cao (60 - 80% Vo2max), hoặc sau 15 - 30 phút hoạt động ở cường độ quá cao (90 = 130% Vo2 max) với 1 - 5 phút hoạt động và nghỉ, lại hoạt động tiếp (khúc côn cầu…) (Coyle, 1991.) VĐV tập quyền hằng ngày cần tăng lượng tinh bột ăn vào để tránh tình trạng mệt mỏi, tập luyện quá sức, thực hiện vận động kém.

Glycogen dự trữ trong cơ với tốc độ khoảng 5% mỗi giờ, vì vậy sau mỗi được tập hết sức cần 20 giờ để hồi phục hoàn toàn. Trong 2 giờ đầu sau tập luyện glycogen tổng hợp với tốc độ nhanh - 7%/1 giờ. VĐV  cần nhận đủ lượng tinh bột trong thời gian này. Thông thường là 50g cho người nặng 70kg trong vòng 2 giờ đầu (điều chỉnh theo trọng lượng cơ thể).

Câu 33. Phương pháp tăng khả năng dự trữ lượng glucogen

Đáp án:

Đây là một loại kỹ thuật làm tăng khả năng dự trữ lượng glucogen cho  trạng thái  cơ thể. Phương pháp cơ bản của kỹ thuật này được phân thành 2 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất là thời kỳ tiêu hao. Hàng ngày đưa vào một lượng cacbohidrat thấp (60 - 100g), đồng thời duy trì cường độ luyện tập ở cường độ vận động trung bình trong 4 ngày, lượng glucogen dự trữ trong cơ bắp của vận động viên bị tiêu hao hết.

Giai đoạn thứ hai là thời kỳ tổng hợp. Mỗi ngày đưa vào một lượng cacbohidrat cao (loại tinh bột, 500 - 600g), đồng thời ngừng luyện tập để kích thích glucogen dự trữ ở trong cơ bắp. Lúc này, lượng tái dự trữ glucogen trong cơ bắp có thể tăng lên gấp nhiều lần, hàm lượng glucogen trong mỗi 100g cơ bắp sẽ lên tới 4 - 5g.

Trong toàn bộ quá trình 7 ngày tiến hành phương pháp tăng dự trữ glucogen, lượng cung cấp protein, chất khoáng, vitamin và nước vẫn giữ như cũ. Với các hạng mục cần tới sức chịu đựng mà thời gian thi đấu không quá dài, thì chỉ cần chạy bộ 10km trước cuộc thi 48 tiếng, sau đó nghỉ ngơi, đồng thời ăn các bữa ăn với một lượng cacbohidrat cao là sẽ có đủ lượng glucogen cơ bắp để dự trữ sử dụng.

Khi tổng hợp glucogen, mỗi gram glucogen sẽ kết hợp với 2,7g nước. Như vậy, glucogen phân giải khi đang vận động, nước nó mang theo sẽ bốc hơi có tác dụng làm cho thân nhiệt hạ xuống. Song glucogen mang theo nước sẽ làm tăng cân nặng. Nếu mỗi 100g cơ bắp dự trữ 5g glucogen, thì trọng lượng phụ gia của cơ bắp cộng với glucogen và nước, tổng cộng sẽ lên tới 18,5g. Các cơ bắp đầy ắp glucogen và nước sẽ bị cứng lên, làm cho vận động viên cảm thấy nặng nề, không quen. Vì thế phương pháp này  nên được thử nghiệm trước tiên ở giai đoạn huấn luyện chuẩn bị cho thi đấu để  vận động viên quen và thích ứng rồi mới ứng dụng vào khi thi đấu.

Câu 34. Đồ uống khi vận động

Đáp án:

Mục đích chủ yếu của việc cung cấp đồ uống khi vận động là để bổ sung nước cho vận động viên, đồng thời bổ sung các chất dinh dưỡng như chất khoáng, vitamin, đường... với một lượng thích hợp, để vận động viên duy trì hoặc khôi phục được trạng thái dinh dưỡng tốt nhằm phát huy được hết khả năng thi đấu tối ưu. Các loại đồ uống đang có bán trên thị trường hiện nay có đồ uống nước quả, đồ uống axit cacbonic, đồ uống axit lactic, đồ uống cà phê... Thành phần cơ bản của các loại đồ uống đó là nước, chất khoáng, vitamin tan trong nước, đường hoá học, chất làm ngọt nhân tạo, axit amin, axit béo mạch ngắn... Có những đồ uống có chứa một vài vị thuốc thảo mộc. Loại đồ uống thích hợp với vận động ngoài các tiêu chuẩn chất lượng về khẩu vị, màu sắc...  còn phải chú ý xem khi uống vào có được hấp thụ nhanh chóng hay không.

Nước và các chất hoà tan trong đồ uống chủ yếu được hấp thụ trong đường ruột qua môn vị, còn trong dạ dày thì chỉ có thể hấp thụ vi lượng. Việc đồ uống có thể được hấp thụ nhanh và hết hay không có liên quan rất lớn với hiệu suất bài tiết của dạ dày. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu suất bài tiết của dạ dày bao gồm thành phần hoá học và áp lực thẩm thấu... của đồ uống. Cacbohidrat được bài tiết nhanh nhất, tinh bột và đường glucoza đẳng lượng ngang nhau, chất protein tương đối chậm và lipit là chậm nhất. Thường các loại đồ uống có áp lực thẩm thấu thấp thì được bài tiết nhanh hơn loại đồ uống có áp lực thẩm thấu cao, nhưng như vậy không có nghĩa là càng thấp thì càng nhanh. Chẳng hạn như khi clorua natri có nồng độ là 200mlili osmol/kg nước thì sẽ được bài tiết nhanh nhất, còn khi thấp hơn nồng độ này (kể cả nước sạch) thì sẽ được bài tiết tương đối chậm, khi cao hơn nồng độ đó thì hiệu suất bài tiết sẽ tỷ lệ nghịch với lượng chứa muối. Áp lực thẩm thấu của đồ uống sẽ có tổng lượng dung chất có trong đồ uống quy định. Áp lực thẩm thấu của các chất phi điện giải có nồng độ 1 phân tử gam trong 1kg nước là 1000 mili osmol/kg nước. Đồ uống thấp hơn áp lực thẩm thấu của máu (270 - 290 mili osmol/kg nước) được gọi là đồ uống áp lực thẩm thấu thấp, như dung dịch sucroza 2 - 2,5%, nước đường hoá học 1,5 - 2%, dung dịch clorua natri 0,5 - 0,9%.

Nước giữ vai trò rất quan trọng đối với cơ thể chỉ sau oxy: Trong thể thao, vai trò giải nhiệt của nước có vị trí đặc biệt.

 Câu 35.Sự tạo nhiệt trong quá trình hoạt động:

Đáp án:

Cơ thể con người là một hệ thống ít hiệu quả về phương tiện chuyển hoá năng lượng của thức ăn thành hoạt động cơ học. Chỉ có 20 - 25% năng lượng dự trữ của glycogen hoặc chất béo chuyển sang hoạt động của cơ bắp. Phần còn lại, 70 - 80% bị mất đi dưới dạng nhiệt. Sự toả nhiệt tại các cơ hoạt động mạnh gấp 10 - 20 lần chuyển hoá cơ bản do tăng chuyển hoá. Tốc độ toả nhiệt đó có thể làm tăng nhiệt độ cơ thể lên 100C mỗi 5 - 8 phút, tức là có thể tử vong sau 30 phút hoạt động mạnh nếu không có hệ thống điều nhiệt hiệu quả. Bay hơi mồ hôi từ bề mặt đa là biện pháp toả nhiệt chủ yếu của cơ thể (trữ điều kiện thời tiết mát, lạnh, có nhiều gió và cường độ vận động thấp).

Một người chạy với tốc độ 16km/giờ, toả nhiệt 1.000Kcal, đòi hỏi phải bay hơi 1,6 lít mồ hôi để cân bằng nhiệt lượng (1 lít mồ hôi bay hơi từ da giải toả 600kcal). Cần biết là mồ hôi chảy từng giọt, hoặc ướt áo quần không có hiệu quả giải nhiệt. Tuy nhiên việc giải toả nhiệt qua mồ hôi chỉ có hiệu quả nếu cơ thể không bị khô nước.

 

Câu 36.Tác hại của việc thiếu nước:

Đáp án:

 

Trong điều kiện thời tiết nóng nực, VĐV có thể mất nước qua mồ hôi từ 2 - 2,5lít/giờ. Việc mất chất điện giải qua mồ hôi ít hơn nhiều so với mất nước (mồ hôi nhược trương) và chủ yếu là mất NaCl. Hậu quả của việc thiếu nước tuỳ thuộc vào mức độ thiếu và thường được đánh giá bằng việc giảm trọng lượng cơ thể. Ngay việc thiếu nước chỉ là 2% trọng lượng cơ thể đã ảnh hưởng đến hoạt động của hệ tim mạch và sự điều nhiệt. Nhiệt độ tăng thêm 0,4 - 0,50C khi mỗi 1% trọng lượng cơ thể giảm đi. Giảm 4% trọng lượng cơ thể tương ứng với giảm 30% sức co cơ. Trong các cuộc thi kéo dài, sự thiếu nước làm giảm khả năng vận động.

Cần đặc biệt quan tâm để cung cấp đủ nước cho VĐV trước và trong khi thi đấu để phòng mất nước, làm cản trở sự điều nhiệt của cơ thể.

Và nguyên tắc đó áp dụng cho cả thời gian tập luyện cũng như khi thi đấu, vì sự mất nước có thể xảy ra trong một thời gian dài và ngày càng cạn dần nếu không được bù đắp đầy đủ tương tự như glycogen. Sự mất nước xảy ra đối với tất cả các loại hoạt động thể thao và tốc độ mất nước tuỳ thuộc vào cường độ hoạt động, nhiệt độ môi trường độ ẩm, diện tích bề mặt da, quần áo mặc… (Brouns, 1991) và cần được tính tới khi bù hoàn lượng nước phù hợp. Các nước uống có đường và điện giải làm tăng hấp thụ nước, và đường còn cung cấp nhiên liệu cho hoạt động cơ bắp.

VĐV có thể sử dụng các loại nước uống đóng chai sẵn, hoặc tự pha từ nước trái cây, pha loãng với tỷ lệ 50: 50 và cho thêm một nhóm nhỏ muối, hoặc pha 4 - 8g glucoza hay glucoza polyme trong 100ml nước với một nhóm nhỏ muối tuỳ khẩu vị.

Khi việc bồi hoàn nước là ưu tiên thì dùng nước ít đường. Còn khi nhu cầu cung cấp năng lượng là quan trọng thì dùng các loại nước có nồng độ đường cao hơn. Các loại nước uống công nghiệp cho thể thao thường có nồng độ đường là 5 - 10% và NaCl là 10 - 30mm/100-200ml. Việc bổ sung cacbonat kali là không cần thiết và còn có thể nguy hiểm.

 Câu 37.Yêu cầu về bồi hoàn nước:

Đáp án:

- Trước khi tập hoặc thi đấu, VĐV cần được bồi hoàn đủ nước trước khi hoạt động, tập luyện hoặc thi đấu. Không bao giờ hoạt động thể thao trong tình trạng cơ thể bị thiếu nước. Các thức uống chứa cồn (như bia) cần tránh từ đêm trước vì tác dụng lợi tiểu gây mất nước. Bất cứ vì lý do gì làm cơ thể thiếu nước nước đó (do cố ý giảm cân nặng chẳng hạn) cũng cần bù đủ nước ngay trước trận đấu. Cho VĐV uống nhiều nước trong các ngày trước thi đấu (kiểm tra thấy nước tiểu nhạt màu). Trong 10 - 30 phút trước trận đấu cần uống 400 - 600ml nước. Uống sớm hơn thời gian trên cơ thể gây buồn tiểu khi bắt đầu thi đấu.

- Trong quá trình tập luyện hoặc thi đấu, ngoại trừ các cuộc thi dưới 30 phút, còn lại cần cung cấp nước đều đặn cho VĐV trước khi có nhu cầu khát. Uống đều đặn lượng nhỏ nước có tác dụng tốt và dễ được chấp nhận hơn. VĐV nên được khuyến khích uống 100 - 200ml nước mỗi 15 - 20 phút. Tuy nhiên số lượng nước thực sự được uống vào phụ thuộc vào mức độ mất mồ hôi, sự ưa thích đối với loại nước uống và khả năng chịu đựng của dạ dày (Maughan, 1991). VĐV cần được làm quen với việc bồi hoàn nước trong quá trình tập luyện. Các loại nước mát (6 - 120C) được cho là có hiệu quả hơn nước ấm do xuống khỏi dạ dày nhanh hơn và làm giảm nhiệt độ cơ thể tốt hơn. Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây không chứng minh được điều đó (Maughan, 1991). Có lẽ sự ưa thích của VĐV là hướng dẫn tốt nhất nếu VĐV thích loại nước nào thì sẽ uống với số lượng hơn. Dội nước lên da làm tăng toả nhiệt bay hơi cũng có tác dụng giải nhiệt tốt.

- Sau đợt vận động: Thông thường trong thời gian thi đấu VĐV uống 500 - 600ml/giờ vẫn còn thiếu hụt so với lượng nước mất, do vậy cần bồi hoàn nước ngay sau đó đặc biệt nếu có các đợt thi đấu tiếp theo.

Uống nước chín đơn thuần sau vận động làm giảm Na/huyết tương và giảm áp suất thẩm thấu, điều đó dẫn tới giảm cảm giác khát và tăng lượng nước tiểu do vậy không bồi hoàn được lượng nước mất. Các nước uống có chứa cacbonat natri (nước khoáng) có hiệu quả tốt hơn. VĐV cần mang nước uống theo mình, đừng để phụ thuộc hoàn toàn vào ban tổ chức.

 

Câu 38. Phương pháp tự  điều hòa cảm xúc và giức ngủ bằng tác động lên cơ quan phân tích vận động

Đáp án

Đây là phương pháp giữ lần lượt tứ chi ở trạng thái treo khi nằm ngủ và trong các trường hợp đang đêm bị thức giấc. cũng như cả ban ngày khi bị hưng phấn cảm xúc.

Để làm cho giấc ngủ diễn ra nhanh chóng, nên thực hiện các bài tập tĩnh nhẹ để gây trạng thái hơi mệt mỏi.

Khi thực hiện bài tập cần hướng ý nghĩ vào cảm giác mệt mỏi của các cơ và do đó lãng quên được các suy nghĩ lo lắng về cuộc thi đấu sắp đến. Trạng thái mệt mỏi sẽ xuất hiện khoảng sau 1 phút. Khi thực hiện bài tập cần nằm trên giường, nhắm mắt lại và nằm theo tư thế quen thuộc.

  • Bài tập cho người có thói quen ngủ nằm nghiêng;

Nâng tay duỗi thẳng lên khoảng 5-10cm và giữ tay ở vị trí đó trong 2 phút.

Nâng hoặc co chân ở khớp gối và giữ chân ở vị trí đó đến khi mỏi,, khoảng 1-2 phút.

Thư giãn chân tay mấy giây, sau đó làm lại các bài tập trên 1-2 lần theo một trật tự bất kỳ nào đó tùy thuộc vào trạng thái lúc bấy giờ.

  • Bài tập cho những người có thói quen nằm sấp:

 Nâng bàn chân lên 10-15cm ( đầu gối sát giường) và giữ ở vị trí đó khoảng 1 phút.

Cũng làm như vậy đối với chân khác.

Cho chân thư giãn mấy giây, sau đó tập lại 1-2 lần tùy thuộc vào trạng thái lúc bấy giờ

Tập một lần tất cả bài tập mất khoảng 5-6 phút.

  • Bài tập cho những người có thói quen nằm ngửa:

Nâng một tay và giữ nó dọc theo thân trong 2 phút

Nâng tay khác và giữ nó dọc theo thân trong 2 phút

Nằm hai chân tách, mũi hai bàn chân chụm lại, các gót chân tách rộng. giữ ở vị trí đó khoảng 2 phút

Thư giãn chân mấy giây. Khi cần thì làm lại bài tập.

Điều làm cho lãng quên là sự tập trung chú ý vào sơ đồ xác định trình tự và thời gian giữ các ngón tay. Các kiểu khác nhau của phương pháp này có thể là:

-          Lần lượt co và duỗi các ngón tay và giữ chúng ở vị trí co theo trình tự nhất định từ 1-5 giây.

-           Giữ ở tư thế treo một hay hai bàn tay cũng theo sơ đồ nói trên, nâng lên- một lần; hạ xuống… đến 5 lần.

Với mục đích làm giảm hưng phấn cảm xúc có thể sử dụng phương pháp tự tác động lên cơ quan phân tích vận động vào bất kỳ lúc nào trong ngày đêm ( áp dụng để bảo đảm tốt giấc ngủ và loại trừ hưng phấn phát sinh trực tiếp trước và sau thi đấu.

 

Câu 39. Phương pháp tự  điều hòa cảm xúc và giức ngủ bằng tác động  hô hấp .

Đáp án:

Thường người ta không chú ý đến sự hô hấp của mình, không nhận thấy nó. Cho nên khi tập trung vào điều hòa hô hấp, ta có thể loại trừ các ý nghĩ lo lắng trong từng thời điểm nhất đinh.

Trong phương pháp của nhà nghiên cứu, sự chú ý được tập trung trong sự phân bổ giai đoạn ngừng trong chu kỳ hô hấp (thở đứt quãng) theo sơ đồ sau:

a)       hít vào – ngừng thở (nghỉ) – thở ra,

b)       hít vào – thở ra – nghỉ;

c)   hít vào – nghỉ - thở ra – nghỉ.

Bài tập có thể bắt đầu theo bất kỳ kiểu nào. Tuy nhiên điều quan trọng là phải theo sơ đồ. Độ sâu của hô hấp không cần phải thay đổi. Sơ đồ có thể làm phức tạp thêm bằng cách tăng thời gian nghỉ từ 1 đến 5 giây.

Thời gian nghỉ có thể xác định bằng cách đếm, cũng như đọc thầm một số lượng từ khác nhau. Ví dụ, theo một kiểu này để tính thời gian ngừng thở ta nói thầm từ ‘ngừng thở’, theo kiểu khác ta nói: ‘ngừng thở lâu hơn, theo một kiểu nữa lại nói: ‘ngừng thở lâu nhất’.

Sơ đồ tự điều hòa hô hấp có thể thay đổi bằng cách hít vào hay thở ra đứt quãng. Ví dụ, khi hít vào ta hít hai lần để lấy hai khối lượng nhỏ không khí. Khi thở ra cũng làm như vậy.

Ngày nay tự điều hòa bằng hô hấp được áp dụng rộng rãi trong việc điều chỉnh cảm xúc và giức ngủ là phương pháp thở thư giãn.

Câu 40. Phương pháp tự  điều hòa cảm xúc và giức ngủ bằng tác động lên cơ quan phân tích thính giác (âm thanh)

Đáp án:

Phương pháp thứ nhất ( áp dụng trong điền kiện yên tĩnh, khi đi ngủ)

Sự chú ý được chuyển sang sự lắng nghe âm thanh, phát sinh khi động mạch nổi ở thái dương đập. Muốn thế cần sờ lên động mạch và đè nhẹ hai ngón tay lên cổ gân tay ( ở chỗ dái tai ), sau đó cũng bằng hai ngón tay che bớt lỗ tai lại. Âm thanh phát sinh nhịp nhàng đó tác động như một kích thích yếu, đơn điệu. Khi nghe âm thanh của động mạch thái dương, cũng cần đếm nhịp đập trong đầu. Giảm áp lực hay tăng áp lực của ngón tay một ít lên động mạch, ta có thể thay đổi cường độ của âm thanh và lắng nghe cường độ của nó.

Phương pháp này có thể sử dụng để đếm mạch

Phương pháp thứ hai ( áp dụng trong khi ngồi hay nằm trong hoàn cảnh có tiếng ồn với mục đích lãng quên)

Dùng bàn tay che lỗ tai và đè nhẹ lên tai, ta lắng nghe trong im lặng, sau đó giảm áp lực của bàn tay và lắng nghe trong điều kiện ồn ào. Lặp đi lặp lại một cách nhịp nhàng. Đồng thời nên thay đổi thời gian ép bàn tay lên tai khoảng từ 1 đến 3 giây. Có thể che hai tai cùng một lúc, hoặc che lần lượt.

Phương pháp thứ ba  ( áp dụng khi đi ngủ)

Gõ các ngón tay lên gối và lắng nghe âm thanh. Nên làm nhiều kiểu, bằng cách thay đổi không nhiều lực gõ, cũng như thay đổi nhịp gõ.

Trước đây gần 100 năm, người đặt nền móng cho khoa sinh lý học nước Nga I.M. Xechenop đã viết “ Khả năng của tai cảm giác được sự kéo dài của âm thanh là điều kiện để phân tích âm thanh theo thời gian. Sự phân tích này chính là khả năng tập trung sự chú ý đến các pha riêng biệt của âm thanh khi tăng, khi giảm cường độ”.

Tính chất cảm giác của những âm thanh khác nhau phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm cá thể của người tiếp nhận âm thanh. Ở một số người thường phát sinh cảm giác khó chịu khi lắng nghe tiếng đập của động mạch thái dương. Tuy nhiên, cá phương pháp tác động lên thính giác như vậy có thể sử dụng cho đa số vận động viên.

Thạc sỹ Lê Hữu Hưng Trưởng khoa Y học TDTT

 

 

Đăng nhập

Thông tin liên hệ

Khoa Y sinh học
Trường Đại học TDTT TW I
Từ Sơn, Bắc Ninh

Điện thoại: 0241.2246128
Fax:02413832550

Trang liên hệ

Trực tuyến

 Khoa Y học TDTT hỗ trợ trực tuyến

    - 

 - Giải quyết thắc mắc về thông tin công bố, điểm thông báo

- Tư vấn học tập, chính sách chế độ với sinh viên

- Tư vấn hướng nghiệp, việc làm sau ra trường

Facebook: ysinhhoctdtt khoa 

https://www.facebook.com/ysinhhoctdtt.khoa

Email: khoaysinhhoctdtt@gmail.com

webside liên kết

Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh

http://www.dhtdtt1.edu.vn/

Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch

http://www.cinet.gov.vn/

Người dùng trực tuyến

Hiện đang có 0 users1 khách trực tuyến.